Saturday, September 5, 2009

Giải Thể Chế Độ Cộng Sản-- Kinh Nghiệm Đông Âu

Sách Biên Khảo


Giải Thể Chế Độ Cộng Sản

Luật sư Nguyễn Hữu Thống, 2002


Phần Thứ Hai: Kinh Nghiệm Đông Âu 

                                                                                                                         

            1. Ba nước Baltic

            2. Ba-Lan

            3. Hung Gia Lợi

            4. Đông Đức

            5. Tiệp Khắc

            6. Ba yếu tố dân chủ hóa


http://cache.eb.com/eb/image?id=64729&rendTypeId=4

 


PHẦN THỨ HAI: KINH NGHIỆM ĐÔNG ÂU.

 

1.     BA NƯỚC BALTIC

 

Cuộc đấu tranh giải thể Cộng Sản tại Đông Âu được phát động mạnh mẽ năm 1989 khi nhân dân 3 nước Baltic là Lithuania, Estonia và Latvia đứng lên đòi dân tộc tự quyết. Ba quốc gia này đã được độc lập từ sau Thế Chiến Thứ Nhất. Khi Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, Stalin đã ký hiệp ước bất tương xâm với Hitler để thôn tính và sát nhập 3 nước Baltic vào lãnh thổ Liên Bang Sô Viết. Mùa Xuân 1989 tại Ba Lan, dưới áp lực của công nhân và sinh viên, chính phủ Cộng Sản đã phải tổ chức tuyển cử tự do. Kết quả phe đối lập tòan thắng và một lãnh tụ đối lập đã được quốc hội chỉ định thành lập chính phủ. Thừa dịp này, nhân dân 3 nước Baltic biểu tình đấu tranh đòi độc lập. Sau hai năm chiến đấu kiên cường, 3 nứơc Baltic đã được giải phóng năm 1991 đồng thời với sự tan rã của Liên Bang Sô Viết.

           

2. BA LAN


Tại Ba Lan cuộc đấu tranh giải thể Cộng Sản được phát động năm 1956 với cuộc khởi nghĩa Poznan. Tuy nhiên Liên Xô đã đem quân đội và chiến xa đến dập tắt cuộc nổi dậy.

           http://www.topnews.in/files/pope-II.jpg http://media-2.web.britannica.com/eb-media/89/116189-004-575EB990.jpg

Dầu sao phong trào tranh đấu vẫn được tiếp diễn bởi những cuộc biểu tình của sinh viên đại học Warsaw năm 1968 và những cuộc đình công của công nhân trong thập niên 1970. Năm 1980, Công Đoàn Đoàn Kết phát động tổng đình công làm tê liệt guồng máy kinh tế quốc gia. Trước cao trào đấu tranh của quần chúng nhà cầm quyền Cộng Sản đã phải nhượng bộ và đã ký hiệp ước để công nhận tính hợp pháp của Công Đoàn Đoàn Kết. Nhờ có tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội, phong trào dân chủ bộc phát mạnh mẽ trên tòan lãnh thổ. Đảng Cộng Sản đã phản ứng lại bằng cách ban hành lệnh thiết quân luật để đình chỉ thi hành các quyền tự do dân chủ năm 1981.

           

Năm 1983, nhân dịp về thăm quê hương, Đức Giáo Hoàng John Paul II kêu gọi nhà cầm quyền Ba Lan giải tỏa lệnh thiết quân luật và thừa nhận tính hợp pháp của Công Đoàn Đoàn Kết do Lech Walesa lãnh đạo. Cũng trong năm này, Walesa được trao tặng giải Nobel Hòa Bình. Giải này tuyên dương đường lối đấu tranh hòa bình của Công Đoàn Đoàn Kết là phù hợp với lương tri nhân loại.

           

Năm 1985, Gorbachev đưa ra chủ trương Cởi Mở, Đổi Mới Chính Trị và Tái Cấu Trúc Kinh Tế. Từ nay Liên Xô sẽ không can thiệp vào việc nội bộ của các nuớc Đông Âu trong Minh Ước Warsaw.

          

Năm 1988, những cuộc đình công và biểu tình tuần hành đại qui mô đã đưa đến việc triệu tập Hội Nghị Bàn Tròn và việc tổ chức tuyển cử quốc hội từng phần vào tháng 6, 1989. Kết quả Công Đoàn Đòan Kết tòan thắng tại hầu hết các đơn vị tuyển cử và Luật Sư Mazowiecki trong Công Đoàn Đòan Kết đã được chỉ định làm thủ tướng chính phủ. Qua năm sau, trong các cuộc tuyển cử địa phương, Công Đoàn Đòan Kết lại chiếm đại đa số phíêu. Ý thức trào lưu tiến hóa của lịch sử, và thông cảm với nguyện vọng của người dân, Tổng Thống kiêm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản, Jaruzelski đã tự ý rút lui. Và Walesa đã được quốc hội bầu làm tổng thống Ba Lan đầu tiên trong kỷ nguyên hậu Cộng Sản.

           

Cách Mạng Ba Lan là cuộc Cách Mạng Hoà Bình (Peaceful Revolution).

           

Trong bài diễn văn nhận giải Nobel Hòa Bình, Walesa viết: "Ý nguyện tha thiết nhất của đồng bào tôi gắn liền với mục đích gây tình hữu nghị giữa các quốc gia trên thế giới. Chúng tôi muốn Hòa Bình và vì vậy không chọn bạo động, không chọn đổ máu. Chúng tôi đòi Công Lý và vì vậy đã kiên trì đấu tranh cho quyền sống của con người. Vì Tự Do của chúng tôi không thể bị tước đoạt, nên chúng tôi phản kháng mọi sự bắt giữ các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, tù nhân nghiệp đoàn. Cuộc đấu tranh bảo vệ Nhân Quyền và Nhân Phẩm của chúng tôi sẽ không bị ô nhiễm bởi oán hờn và thù hận..."


 

            3. HUNG GIA LỢI

 

            Đồng thơì với cuộc khởi nghĩa Poznan tại Ba Lan, năm 1956, nhân dân Hung Gia Lợi cũng đã phát động cuộc khởi nghĩa Budapest. Và cũng như tại Ba Lan, phong trào đối kháng tại Hung Gia Lợi đã bị quân đội Liên Xô dập tắt.


http://images.travelpod.com/users/ambough/bellaitalia2007.1190052000.protest-for-freedom-x-liberty.jpg


            Trong hai thập niên 1970 và 1980, các trí thức văn nghệ sĩ, sinh viên và công nhân Budapest đã gia nhập vào các tổ chức đối kháng như nhóm Đối Thoại và Câu Lạc Bộ Danube. Năm 1987, các lực lượng dân chủ kết hợp trong Diễn Đàn Dân Chủ và đưa ra đường lối đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp và bất bạo động. Diễn Đàn Dân Chủ yêu cầu nhà cầm quyền đổi mới chính trị để trở lại chế độ Dân Chủ Đại Nghị như trước năm 1947. (Trong cuộc tổng tuyển cử tự do năm 1945, các Đảng Dân Chủ Xã Hội và Tiểu Tư Sản chiếm 60% số phiếu, trong khi đảng Cộng Sản chỉ được 15%. Năm 1947, với sự yểm trợ của mật vụ Liên Xô, đảng Cộng Sản đảo chính để nắm độc quyền lãnh đạo.)

        

   Đầu năm 1989, Đảng Cộng Sản Hung Gia Lợi công khai xám hối và nhìn nhận rằng cuộc Khởi Nghĩa Budapest 1956 không phải là phản động và phản quốc mà là một cuộc cách mạng đòi tự do dân chủ chống chế độ độc tài Stalin.


            Tháng 6, 1989, 300 ngàn người đã làm Lễ Cải Táng để phục hồi danh dự cho cố Thủ Tướng Imre Nagy bị hạ sát trong cuộc khởi nghĩa Budapest 1956. Tham dự lễ cải táng này, ngoài những người đối kháng trong Diễn Đàn Dân Chủ còn có các viên chức chính phủ, các đại biểu quốc hội, các đại diện các tôn giáo và các hội đoàn.


            Tháng 10, 1989 Đảng Cộng Sản Hung Gia Lợi tuyên bố giã từ Chủ nghĩa  Cộng Sản và đổi danh xưng là Đảng Xã Hội, để theo chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội của các Đảng Xã Hội Âu Châu như Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Áo, Đức, Thuỵ Điển v.v... Sau đó chính phủ đã ban hành tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội. Các đảng Dân Chủ Xã Hội và Tiểu Tư Sản hoạt động từ trước năm 1947 nay được sinh hoạt trở lại. Lãnh tụ Cộng Sản Imre Pozsgay đã đến tham dự nhiều buổi hội thảo của nhóm Diễn Đàn Dân Chủ với tư cách quan sát viên. Sau đó, 2 phe thương nghị đã tổ chức tổng tuyển cử năm 1990. Kết quả Diễn Đàn Dân Chủ thắng phiếu Đảng Xã Hội (Đảng Cộng Sản cũ). Imre Pozsgay cùng phe lãnh đạo Cộng Sản  đã đồng loạt rút lui để nhường cho phe Dân Chủ đứng ra tái lập chế độ Dân Chủ Đại Nghị như trước năm 1947.


            Cách Mạng Hung Gia Lợi là cuộc Diễn Tiến Hoà Bình (Peaceful Evolution).


 

            4. TIỆP KHẮC


Cũng như Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc có truyền thống sinh hoạt dân chủ đại nghị. Năm 1946 trong cuộc tổng tuyển cử tự do Đảng Dân Chủ Cơ Đốc chiếm đại đa số phiếu, phe Cộng Sản chỉ được 6%. Và cũng như tại Hung Gia Lợi, với sự yểm trợ của mật vụ Liên Xô, năm 1948 phe Cộng Sản đã đảo chánh, hạ sát Ngoại Trưởng Masaryk để cướp chính quyền.


 Năm 1968 nhân dân Tiệp Khắc phát động cuộc Khởi Nghĩa Mùa Xuân Prague với sự tán trợ của Tổng Bí Thư Alexander Dubcek. Và cũng như tại Ba Lan và Hung Gia Lợi, Liên Xô đã đem quân đội với chiến xa đến đàn áp cuộc khởi nghĩa.


Năm 1975, 35 quốc gia Âu Châu và Bắc Mỹ ký Thỏa Ước Helsinki để xác nhận sự tôn trọng và thực thi nhân quyền. Qua năm 1976, hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền đã được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn để có hiệu lực chấp hành (Tiệp Khắc đã gia nhập 2 Công Ước này).

           

http://filipspagnoli.files.wordpress.com/2009/06/vaclav-havel-velvet-revolution.jpg


Năm 1977, Hiến Chương 77 được phổ biến với chữ ký của Patocka, Havel và Hajek. Có trên 200 người ký tên hưởng ứng Hiến Chương. Hiến Chương 77 yêu cầu chính phủ tôn trọng và thực thi những cam kết quy định trong thỏa ước Helsinki và trong hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Chính phủ đã phản ứng bằng cách bắt giam 3 người chủ xướng. Với chủ trương không bạo động và không nhượng bộ, mỗi năm có 3 đại biểu mới đứng ra công khai chịu trách nhiệm để phổ biến các tài liệu của Hiến Chương và sẵn sàng ngồi tù.

           

Tới năm 1989 có trên 1500 người đã tham gia Hiến Chương 77. Với chủ trương Tái Cấu Trúc của Gorbachev và với phong trào giải thể Cộng Sản tại Đông Âu, Cách Mạng Tiệp Khắc đã thành công. Tháng 11-1989 Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Milos Jackes từ chức và tháng 12/1989, người chủ xướng Hiến Chương 77, Vaclav Havel, được quốc hội Tiệp Khắc bầu làm tổng thống. Cuộc tổng tuyển cử tự do được tổ chức năm 1990. Quốc Hội mới đã tái tín nhiệm Havel trong chức vụ tổng thống và Alexander Dubcek, người anh hùng dân tộc lãnh đạo cuộc Khởi Nghĩa 1968 đã được bầu làm chủ tịch quốc hội.

          

Cũng như cuộc Cách Mạng Hung Gia Lợi, cuộc Cách Mạng Tiệp Khắc đã thành công nhờ tinh thần tranh đấu của nhân dân và cũng nhờ tinh thần tự giác của nhà cầm quyền Cộng Sản. Những người này đã ý thức trào lưu tiến hoá của lịch sử và đã thông cảm nguyện vọng chính đáng của nhân dân đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Và phe Cộng Sản đã êm đềm rút lui để nhường chỗ cho những chính quyền dân chủ.

           

Cách Mạng Tiệp Khắc được gọi là Cách Mạng Nhung (Velvet Revolution).

           

Hiến Chương 77 viết: "Trách nhiệm bảo vệ những quyền tự do dân sự thuộc về chính quyền. Dầu sao bất cứ ai lo toan đến những vấn đề chung của đất nước cũng phải góp phần vào việc thượng tôn luật pháp và hiệp ước. Do đó, cả chính phủ và công dân đều bị ràng buộc bởi luật pháp quốc tế.

           

Ý thức về trách nhiệm liên đới này và tin tưởng vào sự dấn thân của công dân, chúng tôi soạn thảo Hiến Chương 77 và công bố trước quốc dân hôm nay: Hiến Chương 77 là sự kết hợp tự do, không nặng về nghi thức, được rộng mở cho tất cả mọi người thuộc mọi khuynh hướng, mọi tín ngưỡng và nghề nghiệp để cùng nhau đẩy tới sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền trên đất nước chúng ta cũng như trên thế giới. Những quyền này đã được hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền bảo đảm cùng với Thỏa Uớc Helsinki, và cũng được quy định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

           

Hiến Chương 77 bắt nguồn từ sự đoàn kết và thân hữu của những người cùng chia sẻ những lý tưởng chung. Hiến Chương 77 không phải là một tổ chức chặt chẽ. Nó không có nội quy điều lệ, không có ban chấp hành và cũng không có danh sách hội viên. Bất cứ ai đồng quan điểm, cùng hoạt động hay tán trợ đều là người của Hiến Chương.

           

Hiến Chương 77 không phải là một tổ chức chính trị đối lập nên không đưa ra những đường lối chính trị hay xã hội. Nó chủ trương đối thoại xây dựng với nhà cầm quyền để nêu lên những vụ vi phạm nhân quyền, và đứng làm trung gian điều giải tranh chấp để tìm ra giải pháp..."

 

            5. ĐÔNG ĐỨC

           

Mùa hè 1989 nhà cầm quyền Hung Gia Lợi và Tiệp Khắc không ngăn cản người dân Đông Đức muốn vượt thoát qua Tây Đức. Biên giới Hung Gia Lợi và Áo Quốc bỏ ngỏ. Cuộc vượt tuyến mang ý nghĩa phủ định chế độ Cộng Sản và làm thất thoát nhân lực về mặt kinh tế.

           

Tháng 10, 1989 nhân ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Đông Đức, những cuộc biểu dương lực lượng đại quy mô đòi thống nhất đất nước trong tự do dân chủ báo hiệu sự sụp đổ của chế độ Honecker. Tháng 11/1989, Bức tường Ô Nhục Bá Linh bị phá vỡ. Với tự do báo chí, những tin tức về các tệ đoan trong 40 năm Cộng Sản cầm quyền đã đưa đến những cuộc biểu tình tuần hành đại quy mô làm sụp đổ chế độ Cộng Sản. Đảng Dân Chủ Xã Hội Tây Đức đã góp phần đáng kể vào việc tái thống nhất đất nước.


http://english.ttu.edu/complit/images/1989-11-09_People_freed_from_communist_East_Germany_for_first_time_in_40_years_as_the_Berlin_Wall_is_torn_down_November_11_1989.jpghttp://www.english-online.at/history/collapse-communism/germans-standing-on-berlin-wall.jpg

 

Cuộc Cách Mạng Đức nhằm thực thi quyền Dân Tộc Tự Quyết.

          

Tổng kết lại có thể nói, biến cố lịch sử vĩ đại nhất trong hậu bán thế kỷ 20 là cuộc cách mạng bất bạo động năm 1989 để giải thể Cộng Sản Đông Âu. Cuộc biến động diễn ra quá mau như một chấn động: "Những gì cần tới 8 năm để xảy ra tại Ba lan, thì chỉ cần có 8 tháng để xảy ra ở Hung Gia Lợi và 8 ngày để xảy ra ở Đông Đức".


 

            Chúng ta hãy tóm tắt các sự kiện lịch sử:

          

1. Tại Ba Lan tháng 6, 1989, trong cuộc tuyển cử Quốc Hội từng phần, Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity) đại thắng. Tôn trọng ý nguyện của cử tri, Đảng Cộng Sản phải ủy cho Luật Sư Mazowiecki thuộc Công Đoàn Doàn Kết đứng ra thành lập chính phủ. Qua năm 1990 trong cuộc tuyển cử địa phương, Công Đoàn Đoàn Kết lại chiếm đại đa số phiếu. Tướng Jaruzelski (là tổng thống và tổng bí thư  Đảng Cộng Sản) đã lặng lẽ rút lui, và Lech Walesa lãnh tụ Công Đoàn Đoàn Kết đã được quốc hội bầu làm tổng thống đầu tiên trong kỷ nguyên hậu Cộng Sản.

           

Như vậy, kể từ năm 1981, khi Đảng Cộng Sản ban hành lệnh thiết quân luật cho đến năm 1989 khi Cộng Sản giải thể tại Ba Lan, thời gian là 8 năm.

           

Cách Mạng Ba Lan là cuộc Cách Mạng Hoà Bình.

          

2. Tại Hung Gia Lợi tháng 10, 1989 Đảng Cộng Sản giã từ chủ nghiã Mác Lê và đổi danh xưng là Đảng Xã Hội để theo chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội như tại Pháp, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Đức, Áo, Ý v...v...

           

Trong cuộc tổng tuyển cử tự do năm 1990, Diễn Đàn Dân Chủ đã thắng cử vẻ vang và chính quyền Cộng Sản đã êm đềm rút lui để nhường chỗ cho phe Dân Chủ tái lập chế độ Dân Chủ Đại Nghị.

          

Từ tháng 10, 1989 là ngày Đảng Cộng Sản giã từ chủ nghĩa Cộng Sản, tới tháng 6, 1990 là ngày chế độ Cộng Sản được giải thể, thời gian là 8 tháng.

          

Cách Mạng Hung Gia Lợi là cuộc Diễn Tiến Hoà Bình.

          

3. Tại Đức, tháng 11, 1989, Bức Tường Ô Nhục Bá Linh bị phá vỡ. Tháng trước, nhân ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Đông Đức, một cuộc biểu tình đại qui mô đòi thống nhất đất nước trong tự do dân chủ báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền Honecker. Sự việc diễn ra quá mau lẹ trong khoảng hơn 1 tuần hay 8 ngày.

           

Cuộc Cách Mạng Đức nhằm thực thi quyền Dân Tộc Tự Quyết.

          

4. Tại Tiệp Khác, tháng 12, 1989, lãnh tụ đối lập Havel, ngừơi chủ xướng Hiến Chương 77 được quốc hội bầu làm tổng thống. Những cuộc đấu tranh ôn hòa, bất bạo động diễn ra từ năm 1977, năm công bố Hiến Chương. Năm 1990, quốc hội Tiệp Khắc tái tín nhiệm tổng thống Havel. Và Alexander Dubeck, người anh hùng dân tộc trong cuộc Khởi Nghĩa 1968 đã được bầu làm chủ tịch quốc hội.

           

Cách Mạng Tiệp Khắc là cuộc Cách Mạng Nhung.


           

Từ các cuộc giải thể Cộng Sản tại Đông Âu, chúng ta có thể rút ra 2 kết luận:


1. Chế độ Cộng Sản không bị sụp đổ vì những cuộc tấn công từ bên ngoài, mà chỉ bị giải thể khi người dân trong nước không ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa.


            2. Cuộc dân chủ hoá tại Đông Âu đòi hỏi 3 yếu tố:

            a) Yếu tố thứ nhất: Sức mạnh của nhân dân biểu dương qua những cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành, đình công v.v... như tại Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc.

            b) Yếu tố thứ hai: Một tổ chức đối lập mạnh mẽ như Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, Diễn Đàn Dân Chủ Hung Gia Lợi hay Hiến Chương 77 Tiệp Khắc.

            c) Yếu tố thứ ba: Tinh thần thể thao phục thiện và ý thức của những người CS phản tỉnh biết tôn trọng ý nguyện của đồng bào và quyền lợi của quốc gia như tại Hung Gia Lợi, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức.


            Đôi khi chỉ cần một trong 3 yếu tố là đủ để giải thể Cộng Sản. Nhưng thường khi phải có sự kết hợp của 2 hay 3 yếu tố để có sự chuyển quyền êm ái từ  Cộng Sản qua dân chủ. Tất cả tùy thuộc vào tinh thần tranh đấu của người dân và thiện chí cùng trình độ giác ngộ của nhà cầm quyền.

            Rất tiếc là tại Việt Nam hiện nay cả ba yếu tố nói trên đều chưa thấy xuất hiện.

 

(xem tiếp)


Phần Thứ Ba: Nguyên Nhân Bất Động 

                                                                                                                         

            1. Dân lực suy kiệt

            2. Dân tình chán nản

            3. Dân khí suy vi

            4. Dân trí bưng bít

5. Dân quyền chà đạp


Giải Thể Chế Độ Cộng Sản -- Phần Thứ Nhất: --- Nhận Định Tổng Quát

Sách: Giải Thể Chế Độ Cộng Sản

Luật sư Nguyễn Hữu Thống


Phần thứ nhất: Nhận Định Tổng Quát:

                                                                                                                         

            1. Chiến tranh Cộng Sản

            2. Truyền thống lịch sử

            3. Quá trình phát triển

            4. Phương diện tinh thần

            5. Dân chủ Đa Nguyên

            6. Dân tộc tự quyết



PHẦN THỨ NHẤT: NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

 

           

1. Chiến Tranh Cộng Sản


            Trong chiến tranh Cộng Sản không có hiện tượng tự động bộc phát mà cũng không có hiện tượng tự động suy tàn.


          Trong giai đoạn phát triển, Cộng sản không phải là cây nấm dại tự nhiên mọc trên thân cây gỗ mục. Nó là cả một công trình tổ chức, huấn luyện, đấu tranh trường kỳ và liên tục của phe Quốc Tế Cộng Sản đặt tổng hành dinh tại Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.

cộng sản

            Trong giai đoạn thoái trào Cộng Sản cũng không phải là những lá khô cằn cỗi lần lượt rơi rụng trước trận gió chiều thu. Cuộc đấu tranh giải thể Cộng Sản đã thực sự diễn ra từ 50 năm nay, với cuộc nổi dậy của nhân dân Đông Đức năm 1953, nhân dân Ba Lan và Hung Gia Lợi năm 1956, nhân dân Tiệp Khắc năm 1968, nhân dân Đông Âu và Trung Quốc năm 1989 và nhân dân Nga năm 1991.


            Sự suy tàn của Cộng Sản Đông Âu không phải là điều kiện cần và đủ để giải thể các chế độ Cộng Sản Đông Á. Muốn giải thể Cộng Sản và xây dựng dân chủ phải hy sinh chiến đấu. Muốn khai hoa, kết quả trước hết phải trồng cây.


   2. Truyền Thống Lịch Sử


            Cuộc đấu tranh giải thể Cộng Sản được phát động trước tiên tại Đông Âu vì Âu Châu có truyền thống tự do dân chủ. Hơn nữa Âu Châu còn là trung tâm đấu tranh cách mạng, cách mạng Pháp năm 1789, cách mạng Âu Châu năm 1848, cách mạng Nga năm 1917. Ngoài ra Âu Châu còn là nơi bộc phát hai cuộc thế chiến năm 1914 và 1939 do cách mạng quốc gia cực đoan tại Đức.

       

    3. Quá Trình Phát Triển


            Các chế độ Cộng Sản Đông Âu được Liên Xô áp đặt sau Đệ Nhị Thế Chiến. Các lãnh tụ Cộng Sản Đông Âu do Liên Xô điều động trái với ý nguyện của quần chúng nên không có tính chính thống. Cũng như phe Cộng Sản Lenin đã dùng võ trang đảo chánh phe Dân Chủ Xã Hội Kerensky sau Cách Mạng Tháng Hai 1917, phe Cộng Sản Đông Âu, với sự yểm trợ của mật vụ Liên Xô đã thanh toán các lãnh tụ Dân Chủ Xã Hội và Dân Chủ Cơ Đốc để cướp lấy chính quyền. Vì vậy ngay từ khởi thủy họ không có chính nghĩa và không gây được tín nhiệm và hậu thuẫn quần chúng.


     4. Về phương diện tinh thần


            Người dân Âu Châu được hun đúc bởi truyền thống đấu tranh cho tự do dân chủ và thấm nhuần tư tưởng bình đẳng bác ái của nền văn hóa và giáo lý nhân bản nên thường có tinh thần:

                        a. Phóng khoáng cởi mở.

                        b. Ngay thẳng bộc trực.

                        c. Thể thao phục thiện và

                        d. Công bằng trọng pháp.


            Trước cao trào đấu tranh của quần chúng và áp lực của các đảng viên cơ sở, phe lãnh tụ bảo thủ Đông Âu đã tự ý rút lui để nhường chỗ cho những chính quyền dân chủ.

           

Trong khi đó phe lãnh tụ Cộng Sản Á Châu đã tạo được nhiều thành tích trong Cách Mạng Cộng Sản ngụy trang dưới chiêu bài giải phóng dân tộc chống chế độ thuộc địa và bán thuộc địa. Do đó họ thường tự cao, tự đại, tự hào là "cán bộ mùa thu", "cán bộ vạn lý trường chinh", là "đỉnh cao của trí tuệ loài người".


            Trên thực tế:

            Thay vì phóng khoáng cởi mở, họ lại khép kín bảo thủ.

            Thay vì ngay thẳng bộc trực, họ thường ngụy trang dối trá.

            Thay vì thể thao phục thiện, họ lại bất phục ngoan cố.

            Thay vì công bằng trọng pháp, họ thường bao che tham nhũng.


            Tại Á Châu ngày nay phe lãnh tụ Cộng Sản thuộc thành phần già nua, thất học, ngoan cố và lạc hậu. Họ đã thẳng tay đàn áp phong trào đòi tự do dân chủ do sinh viên và nhân dân Trung Quốc phát động tại Thiên An Môn năm 1989, bất chấp sự phản kháng và phẫn nộ của nhân dân thế giới.


http://www.conong.com/left.h2.jpg

            Cũng vì vậy cuộc đấu tranh giải thể các chế độ Cộng Sản Đông Á sẽ thập phần cam go với nhiều hy sinh, gian khổ, tù đày, chết chóc. Muốn thành công phải thập diện mai phục và đấu tranh toàn diện: đấu lý, đấu lực, đấu pháp, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, đấu tranh đòi tự do nhân quyền, đòi Dân Chủ Đa Nguyên.


            5. Dân Chủ Đa Nguyên


            Khi đưa ra kế hoạch dân chủ đa nguyên một số tác giả chủ trương Đảng Cộng Sản phải từ bỏ địa vị độc tôn và rút khỏi chính quyền để trả quyền quản trị đất nước cho quốc dân. Họ kêu gọi những phần tử tiến bộ trong và ngoài nước liên kết thành một lực lượng dân chủ đủ sức mạnh và hậu thuẫn để đối thoại với những người Cộng Sản cũ đã từ bỏ chuyên chính vô sản.

            Về mặt kỹ thuật pháp lý, họ yêu cầu nhà nước Cộng Sản phải xoá bỏ Điều 4 Hiến Pháp giành độc quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng Sản. Đồng thời Đảng Cộng Sản phải rút ra khỏi chính quyền và đặt các lực lượng trấn áp như công an mật vụ ra ngòai các sinh hoạt chính trị quốc gia.

            Điều đáng chú ý là các tác giả đã không đề cập dến nguyên nhân nào đã thúc đẩy và ép buộc đảng Cộng Sản Việt Nam phải:


                        1) Tu chính Hiến Pháp

                        2) Rút khỏi chính quyền và

                        3) Phục viên công an mật vụ


Chúng ta không quên rằng, trong khi các chế độ Cộng Sản Đông Âu đều do Liên Xô áp đặt sau Thế Chiến Thứ Hai thì các đảng Cộng Sản Á Châu đã lồng cuộc Cách Mạng Cộng Sản trong chiêu bài Giải Phóng Dân Tộc chống chế độ thuộc địa và bán thuộc địa. Trong quá trình tranh đấu họ đã phải hy sinh gian khổ, nằm gai nếm mật ròng rã ba bốn mươi năm mới có cơ hội cướp được chính quyền. Nay không thể bỗng dưng vô cớ họ chịu tự ý "từ bỏ địa vị độc tôn và rút khỏi chính quyền". Phải có một nguyên nhân hay động lực đặc biệt như cuộc Cách Mạng Quốc Dân hoạ chăng họ mới chịu nhượng bộ và rút lui.


            Chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết chỉ có quốc dân mới đủ thẩm quyền để quyết định về chế độ chính trị của quốc gia. Ngược lại cũng chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết nếu quốc dân không bầy tỏ ý nguyện công khai và rõ rệt, các cường quốc trong thế giới dân chủ cũng không có lý do can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác.


            Do đó muốn đưa cách mạng tới thành công, quốc dân phải biểu dương ý chí đấu tranh đòi giải thể Cộng Sản, bảo đảm tự do dân chủ cho các đảng phái công khai hoạt động, đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí để dân chúng ý thức và am hiểu các vấn đề liên quan tới việc xây dựng một chế độ dân chủ qua tổng tuyển cử.


            Cuộc biểu dương lực lượng có thể diễn ra duới hình thức mít tinh và biểu tình tuần hành trong tinh thần:


            1) KHÔNG BẠO ĐỘNG vì bạo động sẽ biện minh cho đàn áp

            2) KHÔNG OÁN THÙ vì toàn dân toàn quân đều là nạn nhân của một thiểu số lãnh đạo ngoan cố và lạc hậu. Và

            3) KHÔNG SỢ HÃI vì đây là điều kiện tiên quyết để tranh đấu và thành công.


            Nói tóm lại muốn giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ trước hết phải có cuộc nổi dậy của quốc dân lên án chế độ và chủ nghĩa Cộng Sản.

            Trước khi được hành sử quyền Tự Do Dân Chủ, Quốc Dân phải hành sử quyền Dân Tộc Tự Quyết.


            6. Dân Tôc Tự Quyết


             Dân Tộc Tự Quyết (DTTQ) là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

          

a) Năm 1949 đồng bào Miền Nam đã hành sử quyền Dân Tôc Tự Quyết để giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất chiếu Hiệp Định Elysée năm 1949 ký kết giữa Tổng Thống Pháp và Quốc Trưởng Việt Nam.

          

b) Năm 1962 nhân dân Algerie đã hành sử quyền Dân Tôc Tự Quyết để bãi bỏ chế độ thuộc địa và lựa chọn chế độ độc lập.

         

 c) Năm 1992 nhân dân Nam Phi đã hành sử quyền Dân Tôc Tự Quyết để chấm dứt chế độ kỳ thị chủng tộc và sau đó đã bầu Luật Sư Mandela làm tổng thống và cựu Thống Đốc De Klerk làm phó tổng thống.

          

Tại Việt Nam, Algerie và Nam Phi, nhà cầm quyền người Pháp và người Anh đã tôn trọng tinh thần thể thao và phục thiện để thuận theo trào lưu tiến hóa của lịch sử và cho phép người dân được hành sử quyền Dân Tôc Tự Quyết bằng cách sử dụng lá phiếu để nói lên ý nguyện của mình.

          

Ngày nay nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam ý thức xu thế tất yếu của thời đại và thông cảm với ý nguyện của nhân dân để tổ chức trưng cầu dân ý, họ sẽ thấy ít nhất 95% dân chúng đòi giải thể chế độ Cộng Sản để thiết lập Dân Chủ Pháp Trị và Kinh Tế Thị Trường. Tuy nhiên vì bản tính bất phục và ngoan cố, vì quyền lợi và địa vị cá nhân và phe đảng, nhà cầm quyền Cộng Sản đã không cho người dân hành sử quyền Dân Tôc Tự Quyết bằng cách sử dụng lá phiếu để lựa chọn chế độ chính trị quốc gia. Do đó trong điều kiện hiện tại Dân Tôc Tự Quyết chỉ có thể được biểu hiện bằng những cuộc biểu dương lực lượng dưới hình thức mít tinh, biểu tình, tuần hành, trong tinh thần không bạo động, không oán thù và không sợ hãi.

          

Trước hết chúng ta hãy duyệt lại những kinh nghiệm giải thể Cộng Sản tại Đông Âu.

 

 (xem tiếp phần kế)

Phần Thứ Hai: Kinh Nghiệm Đông Âu 

                                                                                                                         

            1. Ba nước Baltic

            2. Ba-Lan

            3. Hung Gia Lợi

            4. Đông Đức

            5. Tiệp Khắc

            6. Ba yếu tố dân chủ hóa



Giải Thể Chế Độ Cộng Sản-- Lời Nói Đầu

 

    Phi Lộ: Thuyết Trình Giải Thể Cộng Sản                                                                   

    LỜI NÓI ĐẦU

 

Tại Việt Nam giải thể Cộng Sản là một vấn đề vô cùng tế nhị.  Chúng ta không có tiền lệ.  Kinh nghiệm Đông Âu và Liên Xô có thể gây phấn khởi cho chúng ta.  Tuy nhiên nghĩ cho cùng nó có lợi cho phe CS nhiều hơn.  Vì họ đã biết rút ra những bài học, những biện pháp để ngăn ngừa phong trào đòi tự do dân chủ.

 

1)  Nếu chỉ cần có 40 dân biểu phe dân chủ đã khuynh đảo được 4 ngàn dân biểu quốc hội Liên Xô, thì tốt nhất là không chấp nhận bất cứ một dân biểu nào của phe dân chủ (Nguyễn Thanh Giang không được quyền ứng cử dân biểu và còn bị ném đá vào nhà, bị vu oan giá họa là phản động, tay sai đế quốc). 

 

2)  Nếu chỉ cần một vài tờ báo để có thể phổ biến tin tức và tư tưởng cho hơn 20 triệu độc giả, thì tốt nhất là không cho một tư nhân nào ra báo (trong khi Đảng Cộng Sản có trên 300 nhật báo và tạp chí cùng các đài phát thanh và truyền hình).

 

3)      Nếu chỉ cần có 80 hội dân sự mà có thể vận động được hàng triệu người tham gia biểu tình tuần hành , thì tốt nhất là không hợp thức hóa bất cứ một hội dân sự nào mà họ không thao túng được.

 

4)  Nếu các giáo đường là nơi tập trung quần chúng để xuất

phát và biểu dương lực lượng đòi tự do dân chủ (đặc biệt là tự do tôn giáo), thì tốt nhất là xóa bỏ tư cách pháp nhân của các hội tôn giáo mà họ không kiểm soát đươc như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

 

Ai làm gì họ?  Khi không ai có quyền can thiệp vào việc nội bộ của họ?  Án binh bất động là mặc nhiên nhìn nhận chế độ. Do đó nếu chúng ta không đứng lên đòi dân tộc tự quyết, đòi  giải thể Cộng Sản thì thế giới dân chủ cũng không thể yểm trợ chúng ta.

 

Vì vậy chúng ta không thể hoàn toàn kỳ vọng vào người ngoài.  Trước hết phải trông vào nội lực của người dân trong nước.


Mà ở trong nước thì:

1)  Dân lực đã suy kiệt sau hơn 40 năm chiến tranh vô ích và vô nghĩa. 

 

2)  Dân khí suy vi, dân tình chán nản vì bị lường gạt và phản bội.  Cả một dân tộc đã bị thất vọng về mối tình đầu của tuổi thanh xuân.

 

3)  Dân trí bị bưng bít,  nhồi sọ bởi bộ máy tuyên truyền vĩ đại của  Cộng Sản với những huyền thoại về Hồ Chí Minh và những hào quang của Đảng Cộng Sản.

 

4)  Dân quyền bị phủ nhận trên chủ thuyết và chà đạp theo chính sách.  Dưới chế độ  xã hội chủ nghĩa giả hiệu, tất cả 26 dân quyền như quyền dân sự, quyền sống, quyền tự do thân thể, tự do tinh thần và tự do chính trị đều bị vi phạm thô bạo.  Con Người mất hết nhân phẩm, chỉ được coi là ''con'', mà không  được đối xử như ''người''.  Quyền đối kháng bạo quyền không được phổ biến do tâm lý phục tòng của các đội binh trong cuộc chiến tranh trường kỳ 40 năm.   Có người cho rằng cả một dân tộc đã biến thành tù binh trong đội ngũ Cộng Sản.

 

Bước qua thế kỷ và thiên niên kỷ mới, chúng ta không còn bị ám ảnh bởi thắc mắc ''Có thể giải thể Cộng Sản được không?''. Với niềm tin tưởng, chúng ta bình tâm nghiên cứu lịch sử đấu tranh giải thể Cộng Sản  trên thế giới, tìm hiểu những nguyên nhân bất động ở Việt Nam và đưa ra những mục tiêu chiến lược để phục hồi sự thật lịch sử, giải tỏa huyền thoại Hồ Chí Minh, giải tỏa hào quang Đảng Cộng Sản.

        

  

  Muốn  giải thể CS trước hết phải vinh danh chính nghĩa Tự Do Dân Chủ.  Tiếp theo cuộc khai hóa dân trí của Phong Trào Truyền Bá Quốc Ngữ, chúng ta phải phát động Phong Trào Truyền Bá Nhân Quyền để chấn hưng dân khí, đề xướng dân quyền, phát huy nhân phẩm và khôi phục niềm tin. 

 

Về sách lược chúng ta yểm trợ người dân đấu tranh liên tục, đòi phóng thích từng tù nhân lương tâm (Thích Huyền Quang, Thich Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý,Nguyễn Đình Huy v...v...), đòi thực thi từng quyền con người, như quyền được sống một đời sống xứng đáng, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do cư trú và đi lại, quyền kinh tế xã hội, quyền văn hóa giáo dục, quyền tự do thân thể, không bị bắt giam độc đoán, không bị tra tấn hành hạ, tự do lương tâm, tự do tôn giáo, tự do chính trị, chống chuyên chế đàn áp, bất công bóc lột, tham nhũng thối nát, hối mại quyền thế, biển thủ công quỹ, dĩ công vi tư v...v...


 Tự do dân chủ không phải là những định chế chính trị hay dân sự có sẵn trong xã hội.  Cũng không phải là những món quà từ trên trời rơi xuống hay từ trên ban phát.  Trong lịch sử loài người, các định chế tự do dân chủ đều do người dân trong nước xây dựng nên bằng đấu tranh với hy sinh, tù đầy, chết chóc trong nhiều thập niên và trong nhiều thế kỷ.

 

Dầu sao mọi việc vẫn phải bắt đầu từ khởi điểm.

 

Cùng nhau chúng ta hãy bắt tay vào. Trào lưu tiến hóa của Lịch Sử sẽ đẩy tới phong trào Tự Do Dân Chủ tại Việt Nam.  Trong kỷ nguyên thông tin phong trào Truyền Bá Sự Thật và Truyền Bá Nhân Quyền sẽ thắng bộ máy tuyên truyền dối trá với đàn áp và khủng bố.

 

                                                                        Ls Nguyễn Hữu Thống

                                                                       (Hoa Kỳ tháng 8, 2000)

Giải Thể Chế Độ Cộng Sản-- Mục Lục

 GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

 

Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam

Xuất bản năm  2002, Hoa Kỳ

 

MỤC LỤC

 

Lời Nói Đầu                                                                                       

 

Phần thứ nhất: Nhận Định Tổng Quát:

                                                                                                                         

            1. Chiến tranh Cộng Sản

            2. Truyền thống lịch sử

            3. Quá trình phát triển

            4. Phương diện tinh thần

            5. Dân chủ Đa Nguyên

            6. Dân tộc tự quyết

 

Phần Thứ Hai: Kinh Nghiệm Đông Âu 

                                                                                                                         

            1. Ba nước Baltic

            2. Ba-Lan

            3. Hung Gia Lợi

            4. Đông Đức

            5. Tiệp Khắc

            6. Ba yếu tố dân chủ hóa

 

Phần Thứ Ba: Nguyên Nhân Bất Động 

                                                                                                                         

            1. Dân lực suy kiệt

            2. Dân tình chán nản

            3. Dân khí suy vi

            4. Dân trí bưng bít

5. Dân quyền chà đạp

 

Phần Thứ Tư: Đường Hướng Đấu Tranh

                                                                                                                         

 I. Phục Hồi Sự Thật Lịch Sử                                                             

                 A. Giải Tỏa Huyền Thoại Hồ Chí Minh                                         

                 B. Vinh Danh Cuộc Đấu Tranh Chính Trị và Ngoại Giao

                 C. Giải Tỏa Hào Quang Đảng Cộng Sản                            

                      1. Về mục tiêu độc lập thống nhất                                             

                      2. Về mục tiêu tự do dân chủ                                                     

                      3. Về mục tiêu mưu cầu hạnh phúc                                            

                 D. Giã Từ Dối Trá

                

            II. Khôi Phục Đạo Làm Người

           

                 A. Những Lý Tưởng Truyền Thống của DânTộc                              

                 B. Tuyên Ngôn Dân Quyền Cho Việt Nam                                     

                 C. Nho Học và Phát Triển                                                             

                 D. Tiếng Vọng Nhân Quyền Trên Thế Giới                                     

 

           


Chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc -- Hai chiến dịch định kỳ

Chống Chủ Nghĩa Bá Quyền Trung Quốc
Hai Chiến Dịch Định Kỳ

http://www.lmvntd.org/hndh122002/nhthong.jpg

L.S. Nguyễn Hữu Thống

Để phát động phong trào chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, đồng thời tố cáo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhượng đất bán nước cho ngoại bang, chúng ta có thể tổ chức hai chiến dịch định kỳ:

1) Đồng bào hải ngoại biểu dương lực lượng bằng mít tinh và biểu tình tuần hành tại các tòa đại sứ Trung Quốc để lên án chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc trong việc lấn đất biên giới và chiếm nước Biển Đông của Việt Nam.

2) Đồng bào quốc nội tập hợp tại tiền đình Quốc Hội yêu cầu các đại biểu không phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt vì đây là một hiệp ước bất công, vô lý, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý.

Trong thời gian qua, người Việt hải ngoại đã kết đoàn và phối hợp hành động trong nhiều mục tiêu công tác có chính nghĩa và có sự đồng thuận như:

- Chiến dịch vớt người vượt biển

- Chiến dịch đòi lại tài sản cho các giáo hội và tư nhân

- Chiến dịch yểm trợ các nhà lãnh đạo tinh thần đòi tự do tôn giáo, và yểm trợ các chiến sĩ dân chủ đòi tự do nhân quyền.

Mới đây, để thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói, đồng bào hải ngoại đã phát động chiến dịch tố cáo phe lãnh đạo CS đã phản bội tổ quốc bằng cách nhượng đất bán nước cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

TRUYỀN BÁ SỰ THẬT.

Tại quốc nội ngày nay, vì bị bưng bít và tuyên truyền xuyên tạc, rất nhiều người không hay biết việc Đảng Cộng Sản đã nhượng đất bán nước cho ngoại bang. Vì sự nhượng đất diễn ra tại miền rừng núi hoang vu và nước Biển Đông thì mênh mông xa vời.

Trong khi đó bộ máy tuyên truyền vĩ đại của Đảng Cộng Sản đã trình bày xuyên tạc rằng, do sự tương nhượng, hai bên đã đạt được một thỏa ước phân ranh địa giới công bằng để thay thế Hiệp Ước (Thiên Tân) của phe thực dân phong kiến không quan tâm đến quyền lợi của nhân dân (?)

Và tại Vịnh Bắc Việt, sự quân phân hải phận theo đường trung tuyến (thay thế đường Brévié) là hợp tình hợp lý (Việt Nam 53%, Trung Quốc 47%).

Vì vậy đồng bào hải ngoại về thăm quê hương có nghĩa vụ phải thông tin khách quan và truyền bá sự thật cho gia đình, bạn bè, lối xóm hay biết rằng:

1) Trong những năm 1999 và 2000, Đảng CS Việt Nam đã ký Hiệp Ước Biên Giới và Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt để nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 đất 6 tỉnh biên giới, và khoảng 14.000 km2 hải phận Bắc Việt.

2) Trong điều kiện chính trị hiện nay, với làn sóng dân chủ dâng cao, Đảng CS đã mất chính nghĩa, mất nhân tâm, và mất hậu thuẫn quần chúng. Hơn nữa họ đã lường gạt và phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc. Do đó, trong ý đồ củng cố quyền lực và địa vị, họ đã lén lút nhượng đất bán nước cho Tàu Cộng Sản để xin được che chở và bảo vệ. Cũng như trong thế kỷ 16, Mạc Đăng Dung giết vua cướp ngôi, bị quốc dân phủ nhận và kết án, đã tự trói mình đến quỳ lạy tại Ải Nam Quan, dâng 5 động và một châu cho Tàu phong kiến để xin được che chở và bảo vệ.

3) Trái với lời giải thích của Đảng CS, hai hiệp ước Việt Trung về lãnh thổ và lãnh hải là những hiệp ước bất công, vô lý, vi phạm pháp lý, vi phạm đạo lý và vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

a) Bất công là vì Trung Quốc đã lợi dụng tình thế, dùng áp lực buộc Đảng CS Việt Nam phải hợp thức hóa một tình trạng đã rồi, gây nên bởi sự lấn chiếm bạo hành của các sắc dân thiểu số Trung Hoa, kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp từ thời Chiến Tranh Đông Dương.

b) Vô lý là vì nó không đếm xỉa đến quyền lợi quốc gia, và đã hủy bãi Hiệp Ước Thiên Tân (1885), theo đó Việt Nam và Trung Hoa đã căn cứ vào những yếu tố địa lý và dân sinh để vẽ bản đồ và cắm ranh mốc tại miền biên giới. Hiệp ước công bằng này đã có tác dụng đem lại an ninh và ổn cố cho hai quốc gia từ trên một thế kỷ. Vậy mà ngày nay, bỗng dưng vô cớ, không có chiến tranh võ trang, không có tranh chấp biên giới, hai Đảng CS Việt Nam và Trung Quốc đã tự tiện hủy bỏ Hiệp Ước Thiên Tân, để ký Hiệp Ước Biên Giới (1999), theo đó Việt Nam đã nhượng cho Trung Quốc gần 800 km2 cùng một số địa danh và thắng cảnh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn, Thác Bản Giốc tại Cao Bằng v...v...

c) Vi phạm pháp lý (legally wrong) là vì nó đi trái với sự phân ranh hợp lý của Hiệp Ước Brévié (1887), theo đó hải phận Vịnh Bắc Việt được chia theo tỷ lệ 64% cho Việt Nam và 36% cho Trung Hoa. Chiếu Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (1982) mà cả Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết tham gia, sự phân ranh thềm lục địa và hải phận của hai quốc gia kế cận hay đối diện phải căn cứ trước hết vào những yếu tố địa lý, như mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Hiện nay số dân cư ngụ tại Bắc Việt đông gấp 6 lần số dân sinh sống tại đảo Hải Nam. Và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Việt Nam.


Theo luật pháp và án lệ, tại miền bờ biển, hễ đã có đất thì phải có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Cũng vì vậy mà vùng biển này có danh xưng là Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin).
Hơn nữa đối với Việt Nam, Vịnh Bắc Việt có tầm quan trọng mật thiết về kinh tế, ngoại thương, chiến lược, và an ninh quốc phòng.


Trong khi đó, ngoài Vịnh Bắc Việt, Hải Nam còn có biển Đông Hải thông sang Thái Bình Dương. Về mặt kinh tế, để khai thác dầu khí và đánh cá, dân chúng Hải Nam còn được hưởng thêm 200 hải lý thềm lục địa (hay vùng đặc quyền kinh tế) về phía đông bờ đảo trông sang Thái Bình Dương. Trong khi người dân Bắc Việt chỉ được từ 55 đến 80 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí và đánh cá.


Đặc biệt là về mặt địa chất, các thủy tra thạch kết tụ các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà chảy ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Đây là vùng có dầu khí. Không có con sông lớn nào từ đảo Hải Nam hay lục địa Trung Hoa chảy ra Biển Đông cho phép Trung Hoa khai thác các túi dầu khí tại vùng này.


Căn cứ vào những yếu tố nói trên, Hiệp Ước Brévié đã giành cho Việt Nam gần 2/3 hải phận Bắc Việt (64%). Như vậy, khi ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt năm 2000, Đảng CS Việt Nam đã nhượng cho Trung Quốc 11% hải phận Bắc Việt, khoảng 14.000km2 nước Biển Đông.


Đó là sự bất công quá đáng đối với Việt Nam. Lý do là vì Đảng CS Việt Nam đã dâng biển để thần phục Trung Quốc. Cũng có thể một phần vì không am tường pháp luật, họ đã nhượng bộ quá đáng, gây thiệt hại nặng nề cho quốc gia dân tộc.

d) Vi phạm đạo lý (immoral) là vì hai hiệp ước nhượng đất bán nước đã đi trái với những nguyên tắc của Luật Quốc Tế Nhân Quyền
Sau Thế Chiến Thứ Hai, để đem lại hòa bình và an ninh cho các quốc gia, Liên Hiệp Quốc ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948). 50 năm sau, Liên Hiệp Quốc khai triển những nguyên lý về tự do nhân quyền trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998).
6 mục tiêu và nguyên tắc chỉ đạo các tương quan giữa các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc là bình đẳng, hợp tác, hữu nghị, hòa bình, công lý, và tự do (trong đó có tự do kết ước, không bạo hành, không áp bức, không thôn tính và không lấn chiếm). Những nguyên tắc này được xác nhận bởi Công Ước Dân Sự Chính Trị và Công Ước Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa (1966) mà cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đã ký kết tham gia.


Khi ký hai hiệp ước nhượng đất bán nước nói trên, Đảng CS Việt Nam đã chịu thần phục Trung Quốc do áp bức và cưỡng chế, trái với tinh thần bình đẳng, công lý và tự do kết ước. Ngoài ra họ còn có hậu ý muốn dựa vào Trung Quốc để duy trì quyền lực. Cũng vì vậy họ đã hy sinh quyền lợi của dân tộc để bảo vệ quyền lợi của Đảng. Trong khi đó Trung Quốc đã dùng uy lực của kẻ đàn anh, người gia trưởng, giám hộ để xâm nhập, lấn chiếm đất đai, tạo nên tình trạng đã rồi theo luật rừng xanh. Và với thế thượng phong sẵn có, họ buộc Đảng CS đàn em phải hợp thức hóa tình trạng đã rồi, và hủy bỏ các hiệp ước quốc tế Hoa Việt ký kết từ thế kỷ 19.

e) Vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia (aggression to territorial integrity).
Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền trong Phần Mở Đầu đã lên án những vi phạm tập thể thô bạo và có hệ thống, bắt nguồn từ sự đô hộ, lệ thuộc hay áp chế, phương hại đến chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ. Sự lệ thuộc này đã tước đoạt của cả một dân tộc quyền được sử dụng các vùng lãnh thổ và hải phận trong mục tiêu an ninh quốc phòng, cũng như trong việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên tại đất liền và biển cả.


Lịch sử Việt Nam ngày nay muốn tái diễn cảnh thần phục Bắc Phương tưởng đã chấm dứt từ thiên niên kỷ thứ nhất. Đảng CS Việt Nam đã thú nhận rằng: "Trung Quốc đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình, để chúng ta có ngày hôm nay." Do đó họ đã đánh mất một phần chủ quyền quốc gia và đã để Trung Quốc xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

 

VẬN ĐỘNG TẠI HẢI NGOẠI: CHỐNG CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN.

Ý thức rằng các Hiệp Ước Biên Giới và Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt sẽ không được Tòa Án Quốc Tế hay Liên Hiệp Quốc cứu xét vì không có sự khiếu tố của các quốc gia kết ước (Việt Nam và Trung Quốc) hay của các quốc gia đệ tam có quyền lợi bị thiệt hại.

Do đó chúng ta không nên kỳ vọng vào các Tòa Án Quốc Tế hay các tổ chức tài phán của Liên Hiệp Quốc như Tòa Án Trọng Tài, Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa v...v... Cần phải đưa nội vụ ra Tòa Án Dư Luận, Tòa Án Quốc Dân, Tòa Án Lịch Sử.

Vấn đề không phải là khiếu kiện (trừ phi chúng ta có một chính phủ dân cử trong tương lai để đặt lại vấn đề phân ranh biên giới và hải phận), mà là đấu tranh chính trị, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, giành lại quyền dân tộc tự quyết.

Tại hải ngoại chúng ta có thể phát động Chiến Dịch Chống Chủ Nghĩa Bá Quyền bằng những cuộc mít tinh biểu tình tuần hành quy mô, phối hợp và đồng loạt trước các tòa đại sứ Trung Quốc khắp nơi trên thế giới. Đó cũng là phương thức để cung cấp tin tức cho báo chí và truyền thông quốc tế loan tin về trong nước.

Trọng tâm công tác của chúng ta là biểu dương lực lượng trong dịp Quốc Khánh Trung Quốc (Tháng 10) hay trong Tết Nguyên Đán (Chinese New Year). Để nuôi dưỡng và phát triển phong trào, các chiến dịch Chống Chủ Nghĩa Bá Quyền sẽ được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần.

VẬN ĐỘNG TẠI QUỐC NỘI:
KHÔNG PHÊ CHUẨN HIỆP ƯỚC VỊNH BẮC VIỆT

Vấn đề chủ yếu là phải có sự tham dự của đồng bào trong nước. Cho đến nay chỉ có những bản kiến nghị của các trí thức văn nghệ sĩ hay những cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng để đòi cải thiện dân sinh, chống tham nhũng và bất công xã hội. Đây là lúc chúng ta phát động phong trào quần chúng biểu dương lực lượng để đấu tranh chính trị công khai, ôn hòa và hợp pháp, đồng thời mở rộng địa bàn hoạt động từ nông thôn về đô thị.

Ý thức rằng những việc nan giải phải được khởi sự bằng những việc giản dị. Và những việc đại sự thường được bắt đầu bằng những việc tế vi. Hiện nay Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt chưa được quốc hội phê chuẩn. Do đó đồng bào các giới, đặc biệt là các bô lão và đảng viên kỳ cựu có thể, với tư cách cử tri, tụ tập tại tiền đình quốc hội đệ trình các đại biểu của địa phương mình (tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ v...v...) thỉnh nguyện thư yêu cầu quốc hội không phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt. Thỉnh nguyện thư không phê chuẩn sẽ được thông tri đến chủ tịch quốc hội,
các cơ quan truyền thông trong nước và quốc tế (có ấn bản ngoại ngữ).

Khi quốc hội họp phiên khoáng đại, cử tri tại nhiều đơn vị tuyển cử địa phương có thể tụ tập đông đảo tại tiền đình quốc hội để yêu cầu quốc hội không phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt. Cuộc biểu dương lực lượng sẽ diễn ra định kỳ, theo từng khóa họp thường niên của quốc hội.

Nhà cầm quyền khó có thể đàn áp thẳng tay những cuộc vận động ôn hòa và hợp pháp nói trên. Điều cốt yếu là các cử tri lập kiến nghị phải thuộc lớp sĩ phu bô lão, cựu chiến binh, thương phế binh, cha mẹ liệt sĩ, và có nhiều tuổi đảng. Như vậy nếu có sự đàn áp thì hậu quả sẽ không thể lường được. Đó là chiến dịch bật một que diêm để nấu bánh chưng, vô thưởng vô phạt. Nếu có biến động, lửa sẽ nhờ gió mà nổi lên, và có thể đốt cháy cả một khu rừng.

Hai Chiến Dịch Định Kỳ Chống Chủ Nghĩa Bá Quyền và Chống Phê Chuẩn Hiệp Ước sẽ được tiến hành đồng thời với hai Chiến Dịch Trường Kỳ Truyền Bá Sự Thật và Truyền Bá Dân Quyền.

L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG
Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam
Hoa Kỳ 2003