Tuesday, April 7, 2009

Hoàng Sa Trường Sa theo Công Pháp Quốc Tế

From: nguyenhthong@earthlink.net Date: 2008/12/1

Xin gửi quý bạn bàn thuyết trình mới nhất về

Hoàng Sa Trường Sa. Nguyễn Hữu Thống

 

 

HOÀNG SA TRƯỜNG SA

THEO CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

                                                                   

                                   Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

 

Năm 1982, 119 quốc gia ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về

Luật Biển  và năm 1994 Công Ước có hiệu lực chấp hành.

Hai nguyên tắc hướng dẫn Luật Biển là:

 

1. Dành cho các quốc gia duyên hải quyền đánh cá

   và khai thác dầu khí  200 hải lý tại vùng biển gần bờ.

2. Duy trì tự do hành hải và tự do khai thác

    hải sản tại biển sâu.

 

Sau đây là những ý niệm đại cương về các

danh từ chuyên môn dùng trong Luật Biển.

 

Theo Toà Án Quốc Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Biển Lịch Sử là nội hải nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của Biển Lãnh Thổ. 

 

Đường Căn Bản thông thường là lằn mức thủy triều xuống thấp.

Biển Lãnh Thổ (Lãnh Hải) 12 hải lý chạy từ đường căn bản ra khơi.

Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý để đánh cá trùng điệp với Thềm Lục Địa để khai thác dầu khí chạy từ biển lãnh thổ ra khơi.  Đảo là giải đất thiên nhiên bao bọc bởi nước và cao hơn mực nước thủy triều. Các đảo Đài Loan hay Tích Lan được quyền có quy chế vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Tuy nhiên, các tiểu đảo không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế (như Hoàng Sa và Trường Sa) không được hưởng quy chế này.

 

CÁC HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ
 

Vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có thể được giải quyết dứt khoát trên căn bản công pháp quốc tế. Tại Biển Đông Luật Pháp và Địa Lý là hai kẻ thù của Trung Quốc.

 

 

1. Các Hiệp Ước Việt-Pháp-Hoa

 

 Năm 1884 Việt Nam ký với Pháp  Hiệp Ước Patenôtre theo đó Pháp nhận bảo hộ và đại diện Việt Nam về mặt ngoại giao đồng thời cam kết bảo vệ an ninh quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

 

Theo Hiệp Ước Thiên Tân ký với Pháp năm 1884, Trung Quốc từ bỏ chủ quyền (hữu danh vô thực) đối với Việt Nam, và cam kết tôn trọng các hiệp ước Việt Pháp như Hiệp Ước Patenôtre.

 

Năm 1887, Pháp (đại diện Việt Nam) ký với Trung Quốc Hiệp Ước Bắc Kinh  để phân ranh hải phận Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam được 63% và Trung Quốc được 37%.

 

2. Tuyên Cáo Cairo 1943.

 

    Trong Thế Chiến Thứ II, ba Cường Quốc Đồng Minh đại diện bởi Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt, Thủ Tướng Anh Churchill và Tổng Thống Trung Quốc Tưởng Giới Thạch đã ký Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 nhằm tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả lãnh thổ và các hải đảo ở Thái Bình Dương đồng thời giao hoàn Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Quốc. Tại Hội Nghị Cairo sở dĩ Tổng Thống Tưởng Giới Thạch không đòi trao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc vì Tổng Thống hay biết và nhìn nhận rằng hai quần đảo này không thuộc chủ quyền của Trung Quốc (mà thuộc chủ quyền của Việt Nam).

 

 

3. Tuyên Ngôn Potsdam 1945.

 

    Chiếu Tuyên Ngôn Potsdam 1945 tại vùng Thái Bình Dương, để tước khí giới quân đội Nhật, Đồng Minh quyết định chia Việt Nam thành 2 khu vực: Quân đội Trung Hoa có nghĩa vụ giải giới quân đội Nhật tại vùng Bắc Vĩ Tuyến 16 (Đà Nẵng) trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Và quân đội Anh được ủy nhiệm giải giới quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 vào Nam trong đó có quần đảo Trường Sa.

 

Giải giới binh sĩ không phải là tiếp thu lãnh thổ. Do đó nếu Anh Quốc không có chủ quyền lãnh thổ  tại Trường Sa, thì Trung Quốc cũng không có chủ quyền lãnh thổ  tại Hoàng Sa (và Trường Sa).

 

4. Hiệp Định Elysée 1949.

 

Năm 1947, Anh Quốc trả độc lập cho Ấn Độ và Đại Hồi, Qua năm 1948, Pháp và Việt Nam ra Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long để thừa nhận chủ quyền  độc lập của Việt Nam.

 

Và tại Paris tháng 3-1949, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại Hiệp Định Elysée để trao trả độc lập cho Quốc Gia Việt Nam.  Qua tháng 4-1949, Quốc Hội Nam Kỳ đã biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Với sự thu hồi độc lập và thống nhất năm 1949,Việt Nam có tư cách để tự bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu, kể cả tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 5. Hiệp Ước Hòa Bình San Francisco 1951.

 

Mùa Xuân 1945, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc. Năm 1951, 51 quốc gia đồng minh hội viên sáng lập Liên Hiệp Quốc lại họp Hội Nghị Hòa Bình San Francisco để ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản ngày 8-9-1951.

Điều 2 Hiệp Ước quyết định trao trả chủ quyền lãnh thổ cho các quốc gia đồng minh tại Á Châu Thái Bình Dương như sau:

 

(a) Nhật Bản nhìn nhận nền độc lập của Triều Tiên.

(b) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và

      quần đảo Bành Hồ  [để giao hoàn cho Trung Quốc].

(c) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các quần đảo Kurile

     và Sakhalin [để giao hoàn cho Liên Sô].

(d) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các quần đảo Trường Sa

      và Hoàng Sa [để giao hoàn cho Việt Nam].

 

Đây là một quyết định hợp lý.

 

Thật vậy trong Thế Chiến II có sự tranh chấp chủ quyền giữa Nhật Bản và Pháp (đại diện Việt Nam) tại hai quần đảo này. Ngày 30-3-1939 Nhật Bản công bố đặt Hoàng Sa và Trường Sa dưới quyền kiểm soát của Chính Phủ Đông Kinh vậy mà Trung Quốc đã không lên tiếng phản đối. Chỉ có Bộ Ngoại Giao Pháp, nhân danh Việt Nam, đã gửi công hàm ngày 21-4-1939 để phản kháng Chính Phủ Nhật Bản. Do đó khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, các quốc gia tham dự Hội Nghị Hòa Bình San Francisco  đã minh thị phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên chấp nhận  giao hoàn cho Việt Nam  hai  quần đảo này.

 

Trước đó, ngày 5-9-1951, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đã đệ trình tu chính án để yêu cầu Hội Nghị trao trả Đài Loan, Bành Hồ,  Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) cho Trung Quốc. Tuy nhiên tu  chính án này đã bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống và  3 phiếu thuận.

 

Ngày 7-9-1951, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam đã lên diễn đàn để công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà  không gặp sự phản kháng nào của các quốc gia tham dự Hội Nghị.

 

6. Hiệp Định Geneva 1954.

 

    Năm 1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Geneva  được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ  Cường Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng với Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc). Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954,  một lần nữa, đã xác nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Thật vậy, theo Điều 4 Hiệp Định Geneva: "Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển. Quân đội Liên Hiệp Pháp phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17). Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (Miền Bắc) phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Nam giới tuyến (Vĩ Tuyến 17) trong đó có các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Ngày 4-9-1958 Chính Phủ Trung Quốc tuyên bố mở rộng biển lãnh thổ (lãnh hải) từ 3 hải lý thành 12 hải lý. Quyết định này được áp dụng cho tất cả các hải đảo như Đài Loan (Taiwan), Bành Hồ (Pescadores), Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Bản Tuyên Bố cố tình viện dẫn một số hải đảo thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc vì tọa lạc tại thềm lục địa 200 hải lý, như Đài Loan (nằm sát Hoa Lục), Bành Hồ (tại Eo Biển Đài Loan).

 

Ngoài ra còn cố níu kéo và nhận vơ một số hải đảo và quần đảo không thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì tọa lạc ngoài thềm lục địa 200 hải lý, quần đảo Hoàng Sa (tại các Vĩ Tuyến 17-15, cách Hoa Lục 270 hải lý) và quần đảo Trường Sa (tại các Vĩ Tuyến 12-8, cách Hoa Lục từ 550 đến 780 hải lý).

 

Quyết Nghị năm 1958 của Trung Quốc chỉ là sự sao chép nguyên văn tu chính án của Liên Sô tại Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951. Như ta đã biết, tu chính án này đã bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận.

 

Chiếu Tuyên Cáo Cairo 1943, Tuyên Ngôn Potsdam 1945, Hòa Ước Hòa Bình San Francisco 1951 và Hiệp Định Geneva 1954, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc mà thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy năm 1958 Chính Phủ Hà Nội không có tư cách sở hữu chủ để trao các quần đảo này cho Trung Quốc.

 

7. Hiệp Định và Định Ước Paris 1973.

 

Ngày 27-1-1973 Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã ký Hiệp Định Hòa Bình Paris nhằm "kết thúc chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam".

 

Chiếu Điều 15 Hiệp Định "việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Nam và Miền Bắc, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào, thời gian thống nhất sẽ do Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận".

 

Để thi hành Hiệp Định Paris, với sự chứng kiến của ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, 12 bên tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam đã ký  Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam   ngày 2-3-1973,.

 

Theo Điều 4 Định Ước "các bên ký kết Định Ước này trân trọng cam kết sẽ triệt để tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam".

 

Mặc dầu vậy, 10 tháng sau, tháng 1-1974, Trung Quốc đã huy động toàn lực để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, bất chấp Tuyên Cáo Cairo, Tuyên Ngôn Potsdam, Hiệp Ước Hòa Bình San Francisco, Hiệp Định Geneva và Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc còn vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Sự xâm chiếm này không được luật pháp thừa nhận.

 

Dầu sao, chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải, mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới đều vô giá trị và vô hiệu lực, nhất là

chiếm cứ võ trang.

 

CÔNG ƯỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ  LUẬT BIỂN

 

Năm l982 cùng với 118 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Ký xong, Bắc Kinh mới thấy lo! Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khoản trong Công Ước đã quá rõ rệt: Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý Vùng Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá đồng thời là Thềm Lục Địa để khai thác dầu khí.

 

 Trong khi đó, Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa 270 hải lý và Trường Sa cách Hoa Lục 750 hải lý. Hơn nữa các quần đảo này tọa lạc tại các vĩ tuyến 17- 8 nên không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

 

Biển Lịch Sử.

 

Đuối về pháp lý , Trung Quốc đưa ra thuyết Biển Lịch Sử  hay Lưỡi Rồng Trung Quốc. Lưỡi Rồng Trung Quốc là một vùng biển bao la chạy từ Việt Nam qua Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh, Biển Lịch Sử Trung Quốc rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa.

 

Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát Biển Đông Nam Á, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, cách Sarawak (Mã Lai), và Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Bãi Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Bãi Natuna của Nam Dương và Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân. Nó chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á.

 

Về yêu sách Biển Lịch Sử của Trung Quốc, các luật gia tại Viện Hải Học Đông Tây (Hawaii) phải kêu lên rằng: "Không có nguyên tắc hay điều khoản nào trong Công Pháp Quốc Tế  cho phép Bắc Kinh đòi như vậy!"

 

 Trung Quốc không theo luật pháp mà theo chính sách cố hữu mệnh danh là Chính Sách Đại Hán. Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc ảnh hưởng Trung Quốc (từ thời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế hay Minh Thành Tổ) sẽ mãi mãi thuộc chủ quyền Trung Quốc.

 

 Chính sách này được phổ biến trong thập niên 1950 với cuốn Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc và cuốn Lược Sử Tân Trung Quốc nhắc lại  những cương lĩnh và những lời tuyên bố của Mao Trạch Đông chẳng hạn như: "Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái Bình Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc". 

 

Và sẽ vĩnh viễn thuộc về Trung Quốc bằng sự chinh phục và khai hóa của văn minh chống man di (Territory once won for civilization must not be given back to barbarism: Luận Án Tiến Sĩ do Lo Chi-Kin đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn 1986).

 

 Chính Sách Đại Hán nói trên được tái phát động từ sau Hiệp Định Bàn Môn Điếm 1953 tại Triều Tiên và Hiệp Định Geneva 1954 về Đông Dương. Nó đạt tới cao điểm năm 1974 khi các lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh triệt thoái khỏi Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973.

 

 Tại vùng Biển Đông Nam Á, Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc là mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh. Tuy nhiên vì thuyết Biển Lịch Sử chỉ là một chính sách giả tưởng hay một khẩu thuyết vô bằng, không căn cứ vào các điều khoản của các hiệp ước và công ước quốc tế, kể cả Luật Biển và Luật Tục Lệ Quốc Tế.

 

Vì biết rõ điều đó nên, từ thập niên 1990 khi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển được ban hành, Trung Quốc không bao giờ dám chấp nhận để Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế thụ lý những vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Lo Chi-Kin, sdd). Thật vậy, theo Tòa Án Quốc Tế The Hague, Biển Lịch Sử chỉ là nội hải.

 

Theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982:  "Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia, nằm trong đất liền, về phía bên trong đường căn bản của Biển Lãnh Thổ." (Điều 8). Như vậy Biển Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hai  ngàn cây số.

 

 Và từ 1982 Chủ Nghĩa Đại Hán hay Chủ Nghĩa Bá Quyền Trung Quốc do Mao Trạch Đông phát động từ thập niên 1950 đã bị chặn đứng bởi luật pháp và tòa án của nhân loại văn minh.

         

Định Ranh Thềm Lục Địa

và Xác Định Chủ Quyền Hải Đảo.

 

Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa, Tòa Án Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Tòa Án  Trọng Tài Quốc Tế  và Tòa Án Quốc Tế  The Hague đưa ra 10 tiêu chuẩn để giải quyết vấn đề định ranh thềm lục địa và xác định chủ quyền các hải đảo.

 

 1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc tại các Vĩ Tuyến 17-8 thuộc vùng nhiệt đới như Việt Nam, chứ không ở vùng ôn đới như Trung Hoa.

 

Đảo Hoàng Sa cách lục địa Việt Nam 160 hải lý và cách lục địa Trung Hoa 270 hải lý. Tại vùng biển Trường Sa, bãi Tứ Chính cách lục địa Việt Nam 190 hải lý và cách Hoa Lục 780 hải lý. Đảo Trường Sa cách lục địa Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa Lục 750 hải lý. Do đó về mặt vị trí Việt Nam có ưu thế, và Tòa Án Quốc Tế sẽ cho Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

 

2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận.  Đảo Hoàng Sa rộng 0.56km2 bằng 1/1000 đảo Phú Quốc (568km2), nên được đồng hóa vào lục địa Việt Nam. Trong khi đó bờ biển Việt Nam dài hơn 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hoàng Sa.

 

3) Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Độ sâu nhất tại Hoàng Sa là 900 m và tại Trường Sa là 200 m. Trong khi đó, từ Hoàng Sa và Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu hơn  2300 m và 4600 m. Như vậy Hoàng Sa và Trường Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển.

 

 4) Về mặt địa chất, năm 1925, sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc và vẽ bản đồ, Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương đã xác nhận rằng: "Về mặt địa chất các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam".

 

5) Về dân số, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp 12 lần số dân sinh sống tại đảo Hải Nam.

 

6)  Về khí hậu và sinh thực học,  tại Hoàng Sa và Trường Sa các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới Việt Nam, chứ không thấy ở vùng ôn đới Trung Hoa.

 

 7) Về Khu Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá, Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam. Trong khi  đó, ngoài hải phận về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý để đánh cá về phía đông thông ra Thái Bình Dương.

 

 8)  Tại Thềm Lục Địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm tại giữa Vịnh Bắc Việt và tại khu bãi Tứ Chính phía đông nam Cà Mâu.  Đây là nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ do nước phù sa Sông Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển từ cả triệu năm nay.

Không có con sông lớn nào từ lục địa Trung Hoa hay từ  đảo Hải Nam chẩy ra Biển  Đông. Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục. Hơn nữa, ngoài hải phận về phía tây,  đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí về phía đông thông ra Thái Bình Dương.

 

 9)  Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chính trị,  chiến lược và an ninh  quốc phòng mật thiết với Việt Nam hơn là Trung Quốc . Vì Trung Quốc còn có Biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc Hải chạy thông ra Thái Bình Dương.

 

10)  Các tài liệu, sách báo, họa đồ hay các chứng tích lịch sử phải có tính khách quan, vô tư và xác thực. Dầu sao các tài liệu này cũng không có giá trị bằng các yếu tố khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, dân số, khí hậu, sinh thực học, và những yếu tố đặc thù về kinh tế chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.

 

Về Biển Nam Hải chúng ta chỉ viện dẫn một vài tài liệu khách quan do chính người Trung Quốc biên soạn.  Tần Thủy Hoàng chia Bách Việt thành 3 Quận:

1) Nam Hải (Quảng Đông)

2) Quế Lâm (Quảng Tây), và

3) Tượng Quận (Bắc Việt)

 

Như vậy theo các học giả Trung Quốc, Nam Hải là tên biển của miền Hoa Nam, cách Quảng Đông 50 dặm về phía Nam. Các nhà hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea). (Ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

 

Theo cuốn Tân Từ Điển Thực Dụng Hán Anh do các học giả Trung Quốc biên soạn tại Hồng Kông năm 1971 thì "Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông".

 

 Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 thì "Nam Hải thuộc chủ quyền lãnh thổ của 5 quốc gia là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan".  (Đúng lý là Nam Dương ở vùng nhiệt đới thay vì  Đài Loan ở vùng ôn đới). Nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì Biển Nam Hoa cũng không phải là biển của nước Trung Hoa về phía Nam.

 

 Vì vùng biển này tọa lạc tại Đông Nam Á, nên năm 1995 trong Bản Tường Trình gửi 7 vị nguyên thủ các Quốc Gia trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á, người viết đề nghị Khối ASEAN đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á.

 

 Ngoài ra người viết còn đề nghị với nhà cầm quyền Việt Nam nhờ các luật gia và chuyên gia quốc tế vẽ ranh Thềm Lục Địa Địa Chất (nền lục địa) để yêu cầu Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc quyết định cho Việt Nam được nới rộng thềm lục địa từ 200 hải lý (370 km) tới mức 350 hải lý (650 km).

 

Sau đó đưa vụ tranh chấp Thềm Lục Địa và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra Hội Đồng Trọng Tài hay Toà Án Quốc Tế, nếu cuộc điều giải bất thành. Từ đó đến nay đã 13 năm Chính Phủ Hà Nội vẫn án binh bất động.

 

Trước thái độ khiếp nhược của chính quyền, người dân Việt Nam trong và ngoài nước phải đứng lên giành lại chủ quyền lãnh thổ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đồng thời bảo vệ hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Nam Á.

 

Sở dĩ Trung Quốc không dám mạnh tay với Phi Luật Tân, Nam Dương hay Mã Lai vì, tại các quốc gia này, Dân sẽ đứng lên yểm trợ Chính Quyền trong công cuộc bảo toàn lãnh thổ.

 

Tại Việt Nam ngày nay lòng yêu nước và nguyện vọng của Dân không được biểu lộ bằng những cuộc biểu tình tuần hành. Mọi hành động biểu dương lực lượng đều bị Chính Quyền bưng bít, lên án và đàn áp.

 

Do đó hơn bao giờ hết, theo truyền thống đấu tranh hào hùng của Dân Tộc, chúng ta phải đòi thực hiện cho bằng được châm ngôn khuôn vàng thước ngọc của Tổ Tiên để xây dựng một chế độ dân chủ:  Lấy Dân Làm Trọng và

Coi Nhẹ Chính Quyền (Dân vi quý Quân vi khinh)

 

Với một Chính Phủ của Dân, do Dân và vì Dân, chúng ta sẽ đòi lại đất đai, hải phận và các hải đảo hiện do ngoại bang cưỡng chiếm trái với Luật Pháp và Đạo Lý.

 

      Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

  trong Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền

 

 

Mục Lục sách

 "Vấn đề Hoàng Sa Trường Sa

   theo Công Pháp Quốc Tế".

 

Phần Thứ Nhất

 

Các Hiệp Ước Quốc Tế

1.     Các hiệp ước Pháp Hoa

2.     Tuyên cáo Cairo và nghị quyết Teheran

3.     Tuyên ngôn Potsdam

4.     Hiệp định Élysée

5.     Hiệp ước hòa bình San Francisco

6.     Hiệp định Geneva

7.     Tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải

8.     Hiệp định và định ước Paris

 

Phần Thứ Hai

 

Công Ước Quốc Tế về Luật Biển

 

A.   Biển lịch sử

1.     Chính sách bế quan toả cảng

2.     Danh xưng Nam Hải

3.     Luật biển và luật tục lệ quốc tế

 

B.    Các Hải đảo

1.     Thủ đắc do khám phá

2.     Thủ đắc do chiếm cứ

 

C.   Thềm lục địa

1.     Về Trường sa

2.     Về Hoàng sa

3.     10 tiêu chuẩn

4.     Về vịnh Bắc Việt

 

D.   Kế Hoạch và đề nghị

1.     Kế hoạch của Trung Quốc

2.     Đề nghị gởi Đại Hội ASEAN 1995

 

Bản tóm lược

Summary (English)

 

Muốn có sách, giá $10,

xin liên lạc email nguyenhthong@earthlink.net

 

 

Bênh vực Ls Lê Thị Công Nhân và Ls Nguyễn Văn Đài

CÁC LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN ĐÀI VÀ LÊ THỊ CÔNG NHÂN

BỊ TRUY TỐ VỀ TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC

Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Theo bản cáo trạng, các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố ra Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chiếu Điều 88 Khoản 1 Điểm (a) và (c) Hình Luật mà hình phạt có thể đến 12 năm tù.
Các Luật Sư bị trách cứ đã có những hành vi phỉ báng chính quyền và chống Nhà Nước bằng tuyên truyền
xuyên tạc, và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước CHXHCNVN.

Khoản 1 Điểm (b) kết án tội "dùng chiến tranh tâm lý để tuyên truyền gây hoang mang trong nhân dân". Đây là một tội lỗi thời, tàn tích của thời chiến tranh lạnh. Người Cộng Sản thường lầm lẫn luật pháp với chính trị. Họ đã sáng chế ra những tội trạng giả tạo phi pháp lý như phản động, hay phản cách mạng, địa chủ hay cường hào ác bá v...v...Vì đối với họ, chính trị là thống soái và luật pháp là công cu.ï Bộ Luật Hình Sự 1985 trong Lời Nói Đầu cũng xác nhận điều đó: "Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng Hòa XHCNVN, luật hình sự là một công cụ sắc bén của Nhà Nước chuyên chính vô sản để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội".

Trong chiều hướng đó Quốc Hội đã ban hành những đạo luật hình sự quy định những tội trạng bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch với những yếu tố cấu thành tội trạng hết sức bao quát và mơ hồ, như các tội tuyên truyền chống nhà nước, tuyên truyền chống chế độ, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế, gián điệp, phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền v...v...
Nếu Hình Luật Hoa Kỳ cũng quy định những tội bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch tương tự như vậy, thì ngày nay rất nhiều ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ đối lập sẽ có thể bị truy tố và kết án về các tội tuyên truyền chống Nhà Nước, phỉ báng chính phủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, lợi dụng quyền tự do dân chủ, và đặc biệt là tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền vào tháng 11 tới đây.

Những yếu tố cấu thành tội (bịa đặt) tuyên truyền chống nhà nước, như tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu hay phỉ báng chính quyền, lưu trữ phát hành các tài liệu chống chính phủ cũng có thể dùng để kết tội "phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia" của Điều 87 mà hình phạt có thể đến 15 năm tù. Vì các yếu tố tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền hay lưu trữ phát hành các tài liệu chống Nhà Nước cũng có thể được tòa án nhân dân coi là những hành vi cố ý gây chia rẽ giữa nhân dân và chính quyền, giữa các giáo dân và chính quyền, là những yếu tố cấu thành tội (giả tạo) "phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia".

Từ thập niên 70, nhà cầm quyền Cộng Sản đã bắt giam tại các trại cải tạo những người đối kháng có những hành vi bị coi là tuyên truyền chống chế độ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế hay Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt v...v.... Từ thập niên 1980, họ đã dùng tòa án để truy tố cũng về tội tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ), và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền, và tiếp đến là Luật Sư Đoàn Thanh Liêm.

Qua thập niên 1990, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép), phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73 cũ), và đã kết án Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy v...v.... Cũng trong thời gian này, họ đã truy tố về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và đã kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Giáo Sư Hoàng Minh Chính v...v... Trước đó, năm 1983, Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng bị truy tố và kết án về tội này.

Từ năm 2000, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép) gián điệp, và đã kết án Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình. Đồng thời họ cũng truy tố và kết án Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Nguyễn Đan Quế v...v... về tội (giả tạo) lợi dụng quyền tự do dân chủ.

Năm 2005 họ đã đệ đơn yêu cầu Tòa Án Thái Lan truyền dẫn độ Lý Tống về Việt Nam vì đã rải truyền đơn chống chính phủ tại Saigon, để trả lời về tội (cưỡng ép) xâm phạm an ninh lãnh thổ quốc gia. Và đầu tháng tư năm nay Tòa Phúc Thẩm Bangkok đã bác đơn xin dẫn độ của nhà cầm quyền Hà Nội.

Và ngày 30 tháng 3 vừa qua họ đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý về tội (giả tạo) tuyên truyền chống nhà nước. Năm 2002 Lê Chí Quang cũng bị truy tố và kết án về tội này.

Hiện nay, ngoài các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, có thêm 4 luật sư khác cũng đang bị điều tra truy tố về tội này, là các Luật Sư Lê Quốc Quân, Bùi Kim Thành, Nguyễn Thị Thùy Trang và Nguyễn Bắc Truyền. Trái với dư luận thông thường, đây không phải là một chiến dịch nhằm tước đoạt quyền biện hộ của luật sư trước tòa án. Vì tòa án nhân dân đâu có đếm xỉa đến những lời biện hộ của luật sư. Ngày nay, cũng như luật pháp, tòa án đã biến thành một công cụ của Đảng Cộng Sản với sứ mạng bạc bẽo là "củng cố chính quyền và xây dựng chế độ độc tài toàn trị của Đảng Cộng Sản".

VỀ MẶT TỘI TRẠNG

Tuyên truyền chống chế độ hay tuyên truyền chống Nhà Nước là những tội giả tạo bịa đặt không tìm thấy trong bất cứ bộ hình luật nào của các quốc gia văn minh trên thế giới. Vì tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm đã được luật pháp quốc gia và công pháp quốc tế thừa nhận. Từ giữa thế kỷ 19 khi Các Mác công bố bản Tuyên Ngôn Cộng Sản kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên đấu tranh võ trang để lật đổ chế độ và nhà nước tư bản chủ nghĩa, ông ta cũng không bị Tòa Án Luân Đôn truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ tư bản. Và từ hơn một thế kỷ rưỡi nay, các quốc gia văn minh cũng không truy tố các môn đệ của Mác về tội này.

Từ thập niên 1990, với cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu và Liên Xô, chế độ mệnh danh là xã hội chủ nghĩa đã bị vứt vào thùng rác lịch sử. Để củng cố chính quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giảo hoạt thay đổi tội danh, từ tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ) thành tuyên truyền chống nhà nước (Điều 88).

Chiếu Điều 15 Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị "không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm nếu những điều ấy, không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế là những nguyên tắc luật pháp tổng quát dược thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia". (cụ thể là những nguyên tắc ghi chú trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành). Nguyên tắc này cũng đã được ghi trong Điều 11 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Việt Nam đã gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977 nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Việt Nam đã ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị năm 1982, nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Công Ước này. Chiếu Điều 2 Công Ước, các quốc gia hội viên tham gia Công Ước này cam kết sẽ tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản đã được thừa nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia.

Trong trường hợp những quyền tự do ghi trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp và hiến pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết hay tham gia Công Ước có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc theo tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành. Trong trường hợp quốc gia hội viên kết ước không quy định những quyền này trong luật pháp hay hiến pháp thì những điều khoản về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong Công Ước vẫn có hiệu lực chấp hành và phải được áp dụng trước các tòa án quốc gia và quốc tế.

Ngày nay Việt Nam đã quy định thành văn trong Hiến Pháp hầu hết các nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người dân, như quyền tự do tôn giáo (Điều 70), quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền (Điều 53), quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68), quyền tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền biểu tình (Điều 69), quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được luật pháp bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (Điều 71), quyền được suy đoán là vô tội (Điều 72), quyền riêng tư (Điều 73), quyền khiếu nại, khiếu tố các cơ quan chính quyền khi có sự lạm quyền phi pháp (Điều 74) v...v...

Tuy nhiên quyền tự do tư tưởng không được quy định trong Hiến Pháp vì Đảng Cộng Sản đòi nắm giữ độc quyền tư tưởng, buộc toàn dân phải "theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".

Theo Điều 2 Hiến Pháp "Nhà Nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân". (Chứ không thuộc về một đảng độc tôn, độc quyền là Đảng Cộng Sản)

Theo Điều 3 Hiến Pháp "Nhà Nước bảo đảm quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, và nghiêm trị mọi hành động xâm phạm những quyền và lợi ích của nhân dân". (dầu rằng kẻ phạm pháp chính là Đảng Cộng Sản)

Theo Điều 6 Hiến Pháp "nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân". (Do đó Quốc Hội không thể là sản phẩm và công cụ của Đảng Cộng Sản. Hơn nữa Quốc Hội của nhân dân phải sinh hoạt theo nguyên tắc dân chủ đại nghị hay dân chủ pháp trị chứ không theo nguyên tắc "dân chủ tập trung phản dân chủ).

Theo Điều 11 Hiến Pháp "công dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà Nước và xã hội". (Muốn thế phải thiết lập chế độ dân chủ pháp trị để Dân được quyền làm chủ Nhà Nước và bãi bỏ chế độ độc tài toàn trị trong đó Đảng Cộng Sản độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội).

Theo Điều 52 Hiến Pháp "mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật." (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không được phân biệt kỳ thị về chính kiến hay chính đảng đối lập với đảng cầm quyền).

Theo Điều 53 Hiến Pháp "công dân có quyền tham gia quản lý Nhà Nước" bằng cách hành sử quyền đối kháng, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cử là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết.

Theo Điều 54 Hiến Pháp "công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc Hội". (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không thể tước đoạt quyền tự do ứng cử của người dân bằng những ngăn cản do hiệp thương của các tổ chức ngoại vi hay do thanh lọc của địa phương). Vì cuộc đầu phiếu phải có tính phổ thông (phổ cập) và kín cho tất cả mọi công dân.

Những điều khoản Hiến Pháp nói trên tuyên dương quyền Dân Tộc Tự Quyết, quyền Đối Kháng, quyền Tham Gia Chính Quyền và quyền Tự Do Tuyển Cử của công dân. Vì Nhà Nước thuộc về nhân dân, nên chỉ có nhân dân có quyền lãnh đạo và quản trị nhà nước, Đảng Cộng Sản không thể tự ban cho mình quyền này.

Trong khi đó, Điều 4 Hiến Pháp dành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước cho Đảng Cộng Sản nên đã tước đoạt quyền của nhân dân được có bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền với tư cách cá nhân hay với tư cách đảng viên của các chính đảng. Điều 4 Hiến Pháp phải bị xóa bỏ vì nó đi trái với tinh thần và bản văn của các Điều 2, 3, 6, 11, 52, 53, 54 Hiến Pháp và đi trái với quyền Dân Tộc Tự Quyết. Quyền này đã được Luật Quốc Tế Nhân Quyền thừa nhận trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (các Điều 1 và 55), trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, trong Công Ước về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa (Điều Thứ Nhất).

Như ta đã biết, Dân Tộc Tự Quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia (như Cộng Hòa Dân Chủ hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa), và được quyền tự do ứng cử hay bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Về mặt quốc tế công pháp, các công ước quốc tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị là những hiệp ước quốc tế đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia. Do đó trong trường hợp có những điều khoản mâu thuẫn giữa Luật Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc Tế thì tòa án phải tham chiếu và áp dụng những điều khoản của Công Ước Quốc Tế.

Hơn nữa, chiếu Điều 5 Công Ước Dân Sự Chính Trị, tòa án không được giải thích xuyên tạc luật pháp quốc gia hay công ước quốc tế để cho phép chính phủ hay tòa án làm những hành vi hay tuyên những bản án nhằm phủ nhận hay tước đoạt của người dân những quyền tự do cơ bản đã được luật pháp quốc gia và công ước quốc tế thừa nhận.

VỀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI TRẠNG

Điều 88 Hình Luật quy định tội tuyên truyền chống nhà nước với những yếu tố cấu thành tội trạng như tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước.

Như đã trình bày, tuyên truyền không phải là một tội hình sự dù là tuyên truyền chống chính phủ. Đây chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền bằng tự do tuyển cử. Những quyền này đã được nhân loại văn minh đề xướng từ thế kỷ 18.

Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 quan niệm "quyền tự do phát biểu là một quyền cao quý nhất của con người. Và mục đích của sự thành lập quốc gia là để bảo vệ cho người dân những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng bạo quyền".

Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 minh thị quy định: "khi chính quyền vi phạm dân quyền, người dân có quyền đứng lên đối kháng lật đổ chính quyền để thay thế bằng một chính quyền mới thuận lợi cho việc bảo đảm an ninh và hạnh phúc của người dân".

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng thừa nhận quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền như là một hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết: "Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ dân chủ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải đứng lên đối kháng chống áp bức và bạo quyền".

Ngày nay, trong những cuộc vận động tuyển cử, muốn hành sử quyền tham gia chính quyền, các ứng cử viên đối lập có quyền phát biểu chỉ trích, phê bình hay lên án chính sách của Nhà Nước. Và quốc dân sẽ là người trọng tài để phán xét xem những lời phê bình chỉ trích này có trung thực không. Nếu không có sự cố ý xuyên tạc hay có chứa đựng những sự thật chính trị và xã hội, cử tri có quyền quyết định thay thế chính quyền cũ bằng một chính quyền mới đủ khả năng và thiện chí để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân trong giai đoạn đó.

Vì con người không phải là á thánh nên xã hội cần phải có chính quyền. Và vì nhà cầm quyền cũng không phải là á thánh nên luật pháp phải dành cho người dân quyền kiểm soát, đối kháng, chế tài hay thay thế chính quyền. Nếu không có sự thông tin, phê bình và chỉ trích thì không thể có dân chủ. Nếu không được quyền thay thế hay lật đổ chính quyền thì đảng cầm quyền sẽ tha hóa thành độc tài, tham nhũng, bất công hay bất lực.

Như vậy, tuyên truyền chống chính phủ hay lên án nhà nước độc tài tham nhũng, bất công hay bất lực là những hành vi chính trị cần thiết trong một chế độ dân chủ pháp trị và không thể cấu thành một tội hình sự. Tại các quốc gia dân chủ, tòa án cũng không truy tố những tài liệu hay tác phẩm cổ võ chủ thuyết cộng sản (đòi hỏi lật đổ chế độ tư bản để thiết lập chế độ độc tài vô sản).

Tòa cho đó chỉ là việc hành sử quyền tự do phát biểu để cổ võ một lý thuyết chủ nghĩa về mặt trừu tượng (abstract doctrine). Chỉ khi nào có sự hô hào lật đổ chính phủ bằng võ trang và có việc khởi sự hành động võ trang gây nguy hại diện tiền cho an ninh quốc gia thì mới bị truy tố ra tòa, không phải về tội tuyên truyền chống nhà nước mà về tội phản nghịch. Tiêu chuẩn là phải có sự nguy hiểm rõ rệt rịn tiền thì tội trạng mới cấu thành. Nếu chỉ là lời tuyên truyền phê bình, chỉ trích hay lên án chính quyền bằng lời nói hay bằng bài viết thì chỉ là hành sử công khai, ôn hòa và hợp pháp quyền tự do phát biểu, tự do tư tưởng, và quyền đối kháng. Nếu những quyền này bị ngăn cấm và chế tài thì không thể có xã hội dân chủ và văn minh.

Theo luật pháp phổ thông người dân với tư cách cá nhân hay hội viên của các hội đoàn chính trị (chính đảng) có quyền và có trách nhiệm truyền bá các kiến thức nhân quyền cho dân chúng, đề xướng tranh thủ sự thực thi và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản trên bình diện quốc gia và quốc tế. Đồng thời Nhà Nước có trách nhiệm tiên khởi và cũng có nghĩa vụ phải bảo vệ đề xướng và thực thi nhân quyền cùng những quyền tự do cơ sở bằng cách tạo các điều kiện và cơ chế cần thiết về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và luật pháp để tất cả mọi người trong nước được thực sự hưởng dụng những quyền tự do này với tư cách cá nhân hay thành viên của các hội dân sự và hội chính trị.

Mục đích để truyền bá, phổ biến những kiến thức nhân quyền cho tất cả mọi người, đặc biệt để góp phần loại trừ hữu hiệu các vi phạm về nhân quyền và về những quyền tự do cơ sở của người dân (Phần Mở Đầu và các Điều l và 2 Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc).

Do đó, tổ chức các khóa học tập và thảo luận về những vấn đề nhân quyền và những vấn đề chung của đất nước cho các học sinh sinh viên (ở đây là các sinh viên Trường Cao Đẳng về truyền thông, phát thanh và truyền hình), cũng như truyền bá sự thật (lịch sử và xã hội) và truyền bá nhân quyền cho các cộng tác viên (ở đây là các nhân viên Văn Phòng Luật Sư). Những hành vi này không phải là những yếu tố cấu thành tội tuyên truyền chống nhà nước.

Trong hiện vụ, để qui định tội trạng của bị can, Tòa Án phải phân biệt những trường hợp theo trình tự như sau:

Tuyên truyền chính trị về tư tưởng hay ý thức hệ chống lại chế độ tư bản hay vô sản chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm không cấu thành tội hình sự.

Tuyên truyền chính trị bằng cách in ấn và phát hành các sách báo cộng sản hay chống cộng sản cũng chỉ là việc phổ biến chủ nghĩa lý thuyết trừu tượng (abstract doctrine) không cấu thành tội hình sự.

Tuyên truyền chính trị bằng cách hô hào và lôi kéo những người khốn cùng hãy tập hợp võ trang và đứng lên lật đổ chế độ tư bản, như Các Mác đã làm tại Luân Đôn hồi giữa Thế kỷ19, cũng không cấu thành tội hình sự.

Rải truyền đơn kêu gọi và kích động nói xấu chính quyền và hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền cũng không cấu thành tội hình sự (như phản quốc hay phản nghịch), nếu thực sự chưa có tập hợp võ trang và cũng chưa có khởi sự hành động võ trang của phe nổi dậy. Vì những hô hào kích động này chưa có hậu quả gây nên sự Nguy Hiểm Rõ Rệt Diện Tiền (Clear and Present Danger).

Tại các quốc gia dân chủ văn minh, tòa án độc lập không bao giờ truy tố và kết án người dân về tội tuyên truyền chính trị dầu là tuyên truyền chống chính phủ, chống chế độ hay chống nhà nước.

Luật sư Nguyễn Hữu Thống

California ngày 5-5-2007)
Xin tiếp tay phổ biến

Paltalk: Sử sách Trung Quốc không có đến Hoàng Sa Trường Sa

 

PALTALK: Luật sư Nguyễn Hữu Thống duyệt lại lịch sử
Trung Quốc xa xưa không hề nói đến Trường Sa Hoàng Sa

 

http://vietlinhweb.com/Diendan/index.php?showtopic=6574

   

Lm Phêrô Phan Văn Lợi:

Một lần nữa chúng ta lại gặp nhau, để chia xẻ với nhau những kiến thức và những thao thức về Đất Nước. Trong những giờ phút này, tháng năm này, Đất Nước chúng ta chịu nhiều biến động, và càng ngày càng gây nên những nỗi lo lắng cho tất cả những ai còn thương nước thương nòi. Đoạn nhạc trầm hùng vừa giúp chúng ta tưởng nhớ tới những anh hùng liệt sỉ của chúng ta, nhưng cũng làm chúng ta nhớ tới hiện trạng đầy đau thương, đầy lo lắng của dân tộc, vì nạn thù trong giặc ngoài.

 

Như quý vị đã biết, trong thời gian gần đây, cộng sản Việt Nam ngày càng lộng hành, tự mình quyết đoán mọi chuyện mà không cần ý kiến của nhân dân. Từ việc họ công nhận Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan thuộc về Trung Quốc, sau lễ gọi là cắm mốc biên giới, mới đây thủ tướng cộng sản Nguyễn tấn Dũng đã bất chấp ý kiến của nhiều nhà khoa học và nhiều bậc thức giả, để mà chấp nhận cho quân Tàu tiến vào vùng Tây nguyên, gọi là khai thác khoáng sản Bauxite. Là công việc mà không những tàn phá môi trường thiên nhiên tại vùng Tây nguyên, tàn phá nếp sống của đồng bào sắc tộc, và quan trọng hơn nữa là làm cho Trung Quốc có thể xâm nhập vào chính giữa lòng Đất Nước và chiếm ngự mảnh đất Tây Nguyên, là mái nhà của Đông Dương.

 

Theo các nhà chiến lược ai nắm được vùng đất Tây Nguyên thì sẽ nắm được toàn bộ Đông Dương. Đó là tiền đồn phía Tây của Tổ Quốc. Trung Quốc đã vào đó không phải với những người điều hành, những kỹ sư, nhưng mà còn với nhân viên nhân công, mà người ta nghi rằng đó là những người lính có nhiệm vụ trấn giữ, chiếm hết vùng đó, từ đó đánh vào dân tộc vào Đất Nước của chúng ta. Vậy chúng ta mất tiền đồn phía bắc là Ải Nam Quang, tiền đồn phía Đông là Hoàng Sa Trường Sa. Chúng ta còn nghe nói Trung Quốc muốn tiến vào vùng Côn Sơn và Phú Quốc là tiền đồn phía Nam. Bây giờ cộng sản Nguyễn tấn Dũng và bộ chính trị còn muốn dâng nốt tiền đồn phía Tây nữa. Tất cả những cái đó sẽ gây nên hiểm họa không lường cho dân tộc....

 

Nguyễn Hữu Thống:

Ngày hôm nay, trên bản đồ thế giới đề rằng Hoàng Sa là của Trung Quốc. Nhưng nếu chúng ta còn tin tưởng vào nhân loại văn minh, chúng ta không chấp nhận luật rừng xanh mạnh được yếu thua. Tại sao? Vì con người không phải là cầm thú, nên chúng ta không chấp nhận luật mạnh được yếu thua. Và con người không phải là tôm cá, nên chúng ta không chấp nhận quan niệm cá lớn nuốt cá bé. Nếu nhân loại còn tin và những đức lý đó, thì mới có văn minh.

 

Chúng ta nghĩ rằng là sau những vụ tấn công của Đức quốc xã, của đế quốc Liên sô, của cuộc cách mạng văn hóa Mao trạch Đông, thì nhân loại văn minh vẫn còn giữ được đức Lý. Chúng ta phải tin ở điểm đó, như một niềm tin tôn giáo. Nếu chúng ta giữ được Niềm Tin đó, thì chúng ta có quyết tâm, có triển vọng, đặc biệt là có sự bình tâm để đấu tranh trường kỳ và tiếp tục.

 

Xin thưa, ở Biển Đông, tất cả vấn đề đều chưa ngã ngũ. Bởi vì theo Điều 77 của Luật Biển thì chủ quyền thềm lục địa 200 hải lý cộng với 12 hải lý gọi là Biển Lãnh Thổ, thì tối thiểu chúng ta có 212 hải lý, tức là chúng ta có gần 400 cây số hoàn toàn thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Bất cứ một sự chiếm cứ nào, dù bằng võ trang hay không võ trang, đều vô giá trị.

 

Từ Trường sa về đến lục địa trung hoa thì đến 750 hải lý, thì không thể nào thuộc về chủ quyền Trung Quốc được, theo Luật Biển. Từ Hoàng Sa về lục địa trung hoa là 270 hải lý, cũng là ngoài thềm lục địa của Trung Quốc. Trong khi đó, Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi có 160 hải lý mà thôi.

 

Ngoài những điểm đó về thềm lục địa, thì có những 10 tiêu chuẩn của Tòa Án quốc tế quy định chủ quyền lãnh thổ của các hải đảo. Tôi có trình bày trong sách của tôi, là chúng ta sẽ thắng hoàn toàn về 10 điểm đó. Tôi chỉ xin lấy một thí dụ rất nhỏ, các bạn không cần tài cao học rộng, cũng có thể hiểu ngay được. Hoàng Sa Trường Sa là những đảo gì ? Thưa đó là những đảo san hô. Mà san hô là một sinh vật. Con sinh vật này chỉ có thể sống được nếu nó sống ở vùng nước biển từ 20 đến 30 độ ở Việt Nam. Tức là ở miền nhiệt đới. Chúng ta chỉ thấy san hô sống ở biển Đông Nam Á, và có một ít san hô ở biển Úc Châu thôi. Chúng ta không bao giờ thấy biển san hô, thấy con san hô nào ở trong Biển của Trung Quốc cả, hay là biển Hoàng Hải của Trung Quốc cả. Vì sao ?

 

Xin thưa rằng ngày hôm nay ở miền ôn đới đó, nước biển của Trung Quốc giỏi lắm chỉ ở 5, 10 độ thôi. San hô sẽ chết hết. Mà san hô chết, thì không thể nào có đảo san hô được. Không có đảo san hô, thì không thể nào có Biển Đông của Trung Quốc. Trung Quốc không có đảo san hô tọa lạc  ở Biển Đông, thì theo công pháp quốc tế, theo 1 tiêu chuẩn gọi là "sinh thực học" căn cứ vào những sinh vật những thực vật, cây cối, sinh vật sống nơi đó, chỉ với con san hô đó, chúng ta có thể thắng được Trung Quốc. Trung Quốc còn có có luật pháp, nhân loại còn có Tòa Án, nhân loại còn có Lẽ Phải, còn có đức Lý. Nhân loại còn có sự tự trọng. Không bao giờ chúng ta thua Trung Quốc ở Biển Đông hay Hoàng Sa Trường Sa được. Đó là tổng quát, là 1 trong 10 tiêu chuẩn, theo Công Ước về Luật Biển.

 

Xin thưa thêm một điểm nữa, Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra một tài liệu lịch sử nào có tính cách khách quan và vô tư, không đưa ra một điều khoản nào theo Công ước quốc tế để chứng minh rằng Hoàng Sa Trường Sa và Biển Đông là của Trung Quốc. Thật ra đâu có phải biển đó là biển Nam Hoa. Thời Tần Thủy Hoàng họ chiếm Bách Việt, đổi thành ra 3 quận: quận Nam Hải thuộc Quảng Đông bây giờ, quận Quế Lâm tức thuộc Quảng Tây, quận thứ ba gọi là Tượng Quận.

 

Tượng quận là quận có nhiều voi. Ngày xưa Việt Nam của chúng ta ngày xưa có nhiều voi thật. Bà Trưng khởi nghĩa đánh nhà Hán năm 40 cũng cởi voi. Trước đây, Quảng Đông Quảng Tây là của Việt Nam hết. Bà Triệu năm 248 cũng cởi voi để khởi nghĩa đánh lại quân Đông Ngô. Trần Hưng Đạo khi phá quân Nguyên ở Bạch Đằng Giang, cũng cởi voi đánh giặc. Khi Quang Trung phá tan nhà Thanh ở Đống Đa, cũng ngồi trên mình voi. Tượng Quận đó là Việt Nam, tức là có Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận.

 

Xin thưa là Thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, Hán Vũ Đế lợi dụng sự mâu thuẫn giữa các quốc gia ở miền Bách Việt, có nước Vân Việt đánh nhau với Nam Việt của chúng ta. Về Nam Việt thì các bạn học Sử cũng biết rõ, Nam Việt là một nước mà thủ đô là Quảng Châu đó, là do Triệu Đà là Triệu Vũ Vương đã thành lập được từ thời mà Lưu Bang thành lập nhà Hán. Triệu Đà cũng đã thành lập nước Nam Việt trước đó một năm, 2007 trước Công nguyên, trong khi Lưu Bang thành lập 2006.Tất cả vùng gọi là Nam Việt đó, là vùng gọi là Ngũ Lĩnh, Động Đình Hồ phía nam sông Dương Tử gọi là đất Hồ Quảng tức là Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây đi về phía Việt Nam của mình nữa.

 

Sau khi làm vua, Hán Cao Tổ tức Lưu Bang nhìn nhận Triệu Đà tức Triệu Vũ Vương. Hán cao Tổ mệnh yểu, làm vua được 7,8 năm thì chết. Bà Lữ Hậu chuyên quyền, như nhiếp chính, thì bà đưa ra những luật như cấm không được bán điền khí, cày sắt cho người Nam Việt. Chỉ bán trâu đực, không bán trâu cái. Vì có những sự kỳ thị đó, Triệu Đà phản đối việc này. Triệu Đà đã mang quân chiếm đất gọi là Trường Sa. Thế thì quân nhà Hán mang quân đánh lại Triệu Vũ Vương, và đã thua. Triệu Đà không còn được gọi là Triệu Vũ Vương nữa, mà đã xưng là Triệu Vũ Đế. Theo tôi là năm 151 trước Công Nguyên.

 

Mãi sau này, người con của Hán Cao Tổ là Hán Văn Đế, theo Nho giáo, khôn ngoan lắm, cho những Sứ giả đến nói rằng trong một nước mà có 2 Đế thì không được, vậy chúng tôi xin để nhà vua toàn quyền tự trị từ phía núi Ngũ Lĩnh ở phía Nam, trông coi tất cả những vùng Hồ Nam Quảng Đông Quảng Tây, tất cả vùng này. Có thể nói là gần một nữa của Trung Quốc ngày nay. Việt Nam lúc đó là một nước cực mạnh. Bên kia là Hán, gọi là Tây Hán. Bên này là Nam Việt.

 

Khi mà Triệu Vũ Vương chết đi rồi, thì đứa con Triệu Vân Vương không có được hào khí như người cha. Khi 2 nước đánh nhau, thì ông nhờ Hán Vũ Đế can thiệp. Nhân dịp đó, họ yêu cầu ông phải sang gặp thiên tử (vua) bên Bắc Kinh lúc đó là Lạc Dương. Cho người con của mình sang gặp vua nhà Hán, lấy bà Cù Thị là người Tàu. Bà này về sau được nhận là Hoàng Hậu, có đứa con lên làm vua, thì có âm mưu là dâng Nam Việt cho nhà Hán.

 

Lúc đó, nhân cơ hội đó, thì Hán Vũ Đế xâm chiếm nước Nam Việt của chúng ta. Họ chia ra làm các quận huyện, thì quận đầu tiên là Nam Hải tức là Quảng Đông.Thì Biển Nam Hải đó theo nguyên thủy, không phải là Biển Nam Hoa, South China Sea. Mà biển Nam Hải đó có tên là biển Chướng Hải, tức là biển của quận Nam Hải tại Quảng  Đông. Nó chạy từ eo biển Đài Loan đến Quảng Đông thôi..khoảng chừng 25 cây số, bằng biển lãnh thổ 12 hải lý thôi. Chứ không phải là Biển Nam Hoa. Biển Nam Hoa là chạy dọc theo từ bờ biển Quảng Đông tới bờ biển Nam Dương (Indonesia) là đến 2000 cây số.

 

Những người cộng sản Trung Quốc bây giờ có sự mạo nhận. Họ lấy hải danh (tên biển) để giải thích xuyên tạc rằng chúng tôi đã có Biển Nam Hải từ đời Tần Thủy Hoàng, từ đời Hán Vũ Đế, từ thế kỷ thứ 2 thứ 3 trước Công nguyên. Vấn đề đó là vấn đề lịch sử, chúng ta không bao giờ tranh lại nó. Đó là một kỹ thuật đầu tiên của Trung Quốc, để tiến chiếm Biển Đông. Họ mạo nhận hải danh, tên biển.

 

Thôi xin trả lời ngay người Trung Quốc điểm này: cho đến thế kỷ 15, không bao giờ có tên gọi là "biển Nam Hoa" (South China Sea) cả. Kể từ thế kỷ 15, khi mà có những nhà doanh hải, những nhà thám hiểm bên Bồ Đào Nha Tây Ban Nha đi từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, thì khi họ đến gần nước Ấn Độ, thì muốn thuận tiện, họ nói là Indian Ocean, nhưng không phải là đại dương của nước Ấn Độ. Đó là đại dương tiếp giáp với nước Ấn Độ thôi, gần nước Ấn Độ thôi,

để dễ nhớ, để tiện.

 

Khi họ đi qua eo biển Mã Lai, gần tới đất Trung hoa, thì họ gọi đây là biển Nam Hoa, South China Sea. Không phải là biển của nước Trung Hoa. Mà đó là miền biển giáp miền nam Trung Quốc. Ân Độ dương không phải là biển của Ấn Độ, thì Biển Nam Hoa không phải là biển của nước Trung Hoa.

 

Cũng vì vậy, năm 1995, tôi đã khẩn khoản yêu cầu các nước Đông Nam Á hãy bỏ ngay danh xưng Biển Nam Hoa South China Sea đi ! Nó gây ngộ nhận. Đây là biển của các quốc gia Đông Nam Á chứ không phải là biển của nước Trung Quốc. Ngày hôm nay, Trung Quốc họ nói rằng biển Nam Hoa đó chính là  Nam Hải trong lịch sử chúng tôi đã ghi, đó là vấn đề hàng ngàn năm bất khả tranh nghị, chúng tôi không đưa ra

lý lẽ gì cả, cái đó của chúng tôi. Đó là một sự ngụy biện rõ rệt !

 

Ngày hôm nay chúng ta vạch ra cho Bắc Kinh thấy rõ, cho người Trung Quốc thấy, nhất là những người Trung Hoa trí thức, rằng Trung Quốc không bao giờ tự nhận mình có một chủ quyền nào ở Hoàng Sa Trường Sa và ở biển Đông Nam Á cả, từ thời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh Thành Tổ cho đến thời Mao Trạch Đông mới có chuyện đó. Chúng ta phải viện dẫn từ đời nhà Hán, nhà Tấn, nhà Tùy, nhà Đường đến nhà Nguyên nhà Minh nhà Thanh...

 

Tôi có làm một cuộc nghiên cứu trong 3 tháng, thì không có một chữ nào, trong tất cả các bộ chính sử của Trung Quốc, không có một tên tuổi nào nói rằng Biển Đông là của Trung Quốc cả. Trên thực tế, nếu chúng ta nghiên cứu rất kỹ, thì không bao giờ Trung Quốc có cơ hội nào, không bao giờ Trung Quốc có điều kiện nào đến Biển Đông cả. Mà đến Biển Đông cũng vô ích. Xin kể một điểm rất rõ: thời Minh thành Tổ thế kỷ 15 hùng mạnh, thái giám Trịnh Hòa  7 lần đi Tây dương, gọi là cát hạ tây dương. Tây ở đây là Tây Trúc, ấn độ đương, đi về phía Tây, không phải đi thám hiểm Biển Đông.

 

Trong phái đoàn của Trịnh Hòa, có một học giả tên Mã Hoang, tìm những phong cảnh miền biển, có kể lại một cách ngôn hàng hải thế này: những người Trung Quốc, từ những người đi đánh cá, người buôn bán, sứ giả, khi đến Hoàng Sa Trường Sa thì rất sợ, vì chỗ đó dễ bị bão tố, dễ bị đá ngầm và dễ bị chết. Tính trung bình, thời gian đó, có 10 tàu thuyền đi qua đó thì đắm một thuyền. Nhóm 7 hòn đảo phía đông bắc, mà ta gọi là nhóm An Vĩnh. An Vĩnh là tên một xã ở Quảng Ngãi, cung cấp các nhóm hải quân đi Hoàng Sa Trường Sa. Có một tàu Pháp bị đắm ở đó.

 

http://vietlinhweb.com/Diendan/index.php?showtopic=6574

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tưởng niệm Gs Nguyễn Văn Bông & Gs Nguyễn Ngọc Huy

NHÂN NGÀY TƯỞNG NIỆM CÁC GIÁO SƯ

NGUYỄN VĂN BÔNG VÀ NGUYỄN NGỌC HUY

      LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỐNG 

      Năm 1953 khi Cộng Sản phát động đấu tố tại Nghệ Tĩnh, một số anh em chúng tôi trong nhóm Quan Điểm đã từ Hà Nội di tản vào Nam để tìm chỗ dung thân và xây dựng môi trường hoạt động.

      Lúc này tại Trường Luật và Luật Sư Đoàn Saigon, những thành viên năng động nhất thường có khuynh hướng thiên cộng, như Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Hoàng Quốc Tân, Dương Trung Tín, Âu Trường Thanh, Nguyễn Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Diệp v…v…. Thời gian này chúng tôi chỉ giao kết với một số trí thức theo chủ nghĩa dân tộc, như Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy thuộc Đảng Đại Việt, và ông Ngô Đình Nhu trong Nhóm Xã Hội Thiên Chúa Giáo.

      Ngày 20-7-1954 Hiệp Định Đình Chiến Geneva được ký kết giữa Tướng Henri Delteil, Tư Lệnh Hành Quân thay mặt Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tướng Tạ Quang Bửu thay mặt Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (Bắc Việt).

      Qua hôm sau, 21-7-1954, Hội Nghị Geneva công bố bản Tuyên Ngôn Sau Cùng khuyến cáo hai bên tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất hai miền Nam Bắc vào tháng 7-1956.

      Trước đó 5 năm, Pháp đã trao trả chủ quyền độc lập cho Quốc Gia Việt Nam (từ Nam Quan đến Cà Mâu) theo Hiệp Định Elysee ngày 8-3-1949. Một tháng sau, ngày 23-4-1949, chiếu nguyên tắc dân tộc tự quyết, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất.

      Từ đó Việt Nam  là một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Pháp. Khi có chiến tranh quân đội Việt Nam sẽ chiến đấu cùng với quân đội Pháp dưới danh nghĩa Quân Đội Liên Hiệp Pháp. Một bộ tham mưu hỗn hợp được thành lập, với một tướng lãnh Pháp làm tư lệnh hành quân và một tướng lãnh Việt Nam làm tham mưu trưởng.

      Năm 1954 Quốc Gia Việt Nam tham dự Hội Nghị Geneva cùng với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Ngũ Cường Anh, Mỹ, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc (Anh Quốc và Liên Sô là đồng chủ tịch Hội Nghị).

      Điều đáng lưu ý là Hiệp Định Đình Chiến Geneva ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp ước thuần túy quân sự với mục tiêu ngưng bắn hay đình chiến, tương tự như Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-1953 tại Triều Tiên.

      Trong khi đó, trái lại, bản Tuyên Ngôn Sau Cùng của Hội Nghị ngày 21-7-1954 lại đề cập đến những vấn đề chính trị như tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất hai miền Nam Bắc.

      Tuy nhiên Tuyên Ngôn Sau Cùng không mang chữ ký của bất cứ quốc gia nào tham dự Hội Nghị, kể cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây chỉ là một bản tuyên ngôn ý định (declaration of intent), không phải là một hiệp ước ngoại giao nên không có giá trị pháp lý và không có hiệu lực thi hành. Vì là một hiệp ước quân sự, Hiệp Định Đình Chiến Geneva ngày 20-7-1954 chỉ có chữ ký của hai tướng lãnh là Tạ Quang Bửu và Henri Delteil. Nó không đề cập đến những quyết định chính trị như việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất hai miền, cũng giống như Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-1953 tại Triều Tiên.

      Hơn nữa Quốc Gia Việt Nam cũng không ký vào Hiệp Định Đình Chiến Geneva ngày 20-7-1954.

      Điều khoản nói về tổ chức tổng tuyển cử 1956 chỉ là do ý định và sự sắp xếp của Pháp và phe Quốc Tế Cộng Sản với Liên Sô, Trung Quốc và Bắc Việt. Sự quy định này đi trái với quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam. Vì, như ai cũng biết, tại các nước cộng sản, không có tự do tuyển cử, và bất cứ cuộc đầu phiếu nào cũng chỉ để thông qua những quyết nghị của Đảng Cộng Sản.

      Để chống lại âm mưu thôn tính Miền Nam bằng tổng tuyển cử giả hiệu, Đảng Đại Việt đã cho xuất bản tuần báo Đuốc Việt do giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và ký giả Phạm Thái chủ xướng. Nhóm Quan Điểm chúng tôi cũng công bố lập trường và phổ biến tư tưởng trong  tuần báo Quan Điểm do các anh Nghiêm Xuân Hồng và Vũ Khắc Khoan chủ biên, đồng thời với nhật báo Tiếng Miền Nam do anh Nguyễn Phương Thiệp và tôi phụ trách.

      Trong chiến dịch này, cùng với giáo sư Vũ Khắc Khoan, tôi đã đi thuyết trình tại các đại học, các trường trung học chuyên nghiệp và chuyên khoa, thu thập chữ ký của các giới trí thức, giáo sư và sinh viên học sinh xác định lập trường phản đối Hiệp Định Geneva 1954 chia đôi đất nước. Đồng thời phản kháng sự "hợp thức hóa Hồ Chí Minh" bằng tổng tuyển cử giả hiệu 1956. Đó là nội dung "Bản Tuyên Ngôn của Hai Ngàn Trí Thức Saigon-Chợ Lớn Chống Hiệp Định Geneve".

      Thất bại trong kế hoạch tổng tuyển cử 1956, Đảng Cộng Sản phát động chiến tranh võ trang để thôn tính Miền Nam.

      Trong thời gian này Quốc Gia Việt Nam đã tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc Hội Lập Hiến. Luật Sư Nguyễn Phương Thiệp giữ chức Tổng Thư Ký Quốc Hội, và đã tích cực tham dự vào việc soạn thảo Hiến Pháp 1956 nhằm thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Đệ Nhất Cộng Hòa).

      Sau chính biến 1963, Miền Nam bước vào giao đoạn nhiễu nhương với nhân tâm ly tán và xã hội bất ổn.

      Năm 1964, trong chương trình tái thiết quốc gia, chúng tôi lại có dịp sinh hoạt với Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thuộc Bộ Bình Định; Luật sư Nghiêm Xuân Hồng và tôi phụ trách Bộ Chiêu Hồi (lúc này là Phủ Đặc Ủy Chiêu Hồi).

      Năm 1966, trong chức vụ Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến Đệ Nhị Cộng Hòa,  tôi được Văn Phòng Quốc Hội ủy nhiệm đặc trách công tác lập hiến (thời hạn soạn thảo và hoàn thành hiến pháp là một năm).

      Trong việc tham khảo ý kiến tôi đã tổ chức những buổi "đàm hiến trà" nhằm trao đổi quan điểm với các nhân sĩ, thân hữu và đồng nghiệp về những vấn đề hiến pháp.

      Các vị thẩm phán và luật sư Tòa Thượng Thẩm Saigon đã tham gia ý kiến về việc thiết lập chế độ Dân Chủ Pháp Trị với Tư Pháp Độc Lập và Tam Quyền Phân Lập. Bằng những kỹ thuật pháp lý, Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 đã thành lập Viện Bảo Hiến trong Tối Cao Pháp Viện. Mục đích để bảo vệ tinh thần và bản văn hiến pháp, chống mọi lạm quyền của Hành Pháp và Lập Pháp. Từ nay các vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện không còn do Tổng Thống chỉ định từ trên xuống, mà sẽ được bầu từ dưới lên bởi những đoàn thể luật gia thực sự hành nghề như Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn. Phương thức tuyển cử này có thể áp dụng tại các quốc gia dân chủ tân lập như Việt Nam.

      Theo châm ngôn Dân Vi Quý, về mặt nhân quyền, Hiến Pháp 1967 đề xướng, tôn trọng và bảo đảm những quyền tự do dân chủ căn bản của người dân.

      Đặc biệt tạo cơ hội hình thành quy chế tự do lập hội về tôn giáo và dân sự, và tự do lập đảng về chính trị. Sau khi công bố chính sách "đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật", quốc gia có nghĩa vụ khuyến khích và yểm trợ chế độ đa đảng, tiến tới một hệ thống lưỡng đảng trong đó vị lãnh tụ đối lập có quyền hiến định về chất vấn và phát biểu tương đương với quyền tường trình và giải thích của thủ tướng chính phủ trong những buổi sinh hoạt công khai tại nghị trường.

      Trong cương vị lãnh đạo một đảng đối lập công khai và hợp pháp, các Giáo Sư Nguyễn Văn Bông và Nguyễn Ngọc Huy đã đóng góp nhiều ý kiến về việc hình thành quy chế chính đảng.

      Về quyền tự do báo chí, chúng tôi áp dụng chế độ hậu kiểm, dành cho các cơ quan truyền thông quyền tự do thông tin và tự do phát biểu. Điểm đặc biệt là, dầu trong thời chiến, chúng tôi vẫn quyết định bãi bỏ chế độ kiểm duyệt. Nếu có sự lạm quyền và vi phạm luật báo chí, tòa án sẽ truyền tịch thu tài liệu, truy tố và kết án các đương sự phạm pháp.

      Với sự ban bố và thực thi nhân quyền và những quyền tự do căn bản, Hiến Pháp 1967 đã thực sự đem lại Chính Nghĩa Dân Chủ cho Việt Nam. Do đó, dầu có chiến tranh xâm lược và tuyên truyền lũng đoạn của phe Quốc Tế Cộng Sản, sinh hoạt xã hội vẫn có sinh khí. Cũng vì vậy từ 1960 Việt Nam đã phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn bất cứ quốc gia nào tại Đông Nam Á, kể cả Đài Loan và Đại Hàn.

      Tại miền nông thôn và cao nguyên, sau 2 cuộc cải cách điền địa, mỗi gia đình nông dân được chính phủ cấp phát ruộng đất  miễn phí từ 1 đến 3 hecta (khoảng từ 3 đến 10 mẫu ta). Có thể nói, theo tiêu chuẩn Miền Bắc, đến năm 1975, tất cả các nông dân Miền Nam đều trở thành phú nông.

      Về mặt quân sự, trong 20 năm chiến đấu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tỏ ra xứng đáng là một quân đội anh hùng.

      Trong cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân, Việt Cộng đã thất bại nặng nề về mặt quân sự (tổng công kích). Theo Chế Lan Viên, cán bộ đặc trách ban Văn Công:

      "Mậu Thân, hai ngàn người xuống đồng bằng

       Sau một đêm còn sống có 30!". (Tỷ lệ tổn thất là 98%)

      Về mặt chính trị (tổng khởi nghĩa), trong suốt năm 1968, không thấy có cuộc nổi dậy nào của dân chúng Miền Nam. Theo lời viên Thủ Trưởng Định Tường, tới ngày khởi nghĩa sẽ có 50 tổ đồng khởi, nhưng tới ngày đó "chỉ có một tổ của tôi mà thôi, không thấy 49 tổ kia đâu hết!". (Tỷ lệ sai biệt cũng là 98%)

       Về việc này Hồ Chí Minh nhận định: "Nguyên nhân thất bại về chính trị là sự báo cáo chủ quan".

      Trong cuộc Tổng Tấn Công Xuận Hạ mệnh danh là Mùa Hè Đỏ Lửa, từ tháng 4-1972, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đẩy lui 14 sư đoàn chính quy Bắc Việt, dầu rằng lúc này Quân Lực Hoa Kỳ không còn chiến đấu trên bộ nữa. Và số thương vong của các cán binh Bắc Việt đã vượt quá con số 100 ngàn.

      Trong cuộc Tập Kích Chiến Lược 12 ngày đêm Mùa Giáng Sinh 1972 tại Hà Nội, Hải Phòng và vùng phụ cận, Bắc Việt đã gần như kiệt quệ. Tin trong nước cho biết, tại Hà Nội, nhà nào cũng may sẵn cờ trắng để nghênh đón các chiến sĩ Miền Nam ra giải phóng Miền Bắc.

     Mặc dầu vậy, chỉ một tháng sau, tháng 1-1973, Hoa Kỳ đã áp lực buộc Việt Nam Cộng Hòa ký Hiệp Định Paris, theo đó Hoa Kỳ và các đồng minh như Đại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan phải đơn phương rút quân, trong khi quân đội Bắc Việt không phải triệt thoái ra khỏi chiến trường Việt Nam. Đây là một nghịch lý cơ sở của Hiệp Định Paris 1973.

     Trước đó, từ 1969, Hoa Kỳ đã mặc nhiên thừa  nhận cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền NamViệt Nam trong kế hoạch "3 Nước Việt Nam" do Trung Quốc đưa ra để dối gạt Hoa Kỳ.

      Hơn nữa, từ sau Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ đã nhẫn tâm cắt giảm 2/3 số ngân khoản viện trợ cho Việt Nam, trong khi Liên Sô và Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần số quân viện cho Bắc Việt.

     Tệ hại hơn nữa, Chính Phủ Hoa Kỳ đã không giữ lời cam kết sẽ trả đũa tức thời và mãnh liệt trong trường hợp quân Bắc Việt xâm lấn võ trang trắng trợn vi phạm Hiệp Định Hòa bình Paris.

     10 năm sau khi Miền Nam thất thủ, năm 1985 Tổng Thống Nixon viết cuốn Hồi Ký "No More Vietnams" và tự phán:

     "Đây là sự thất bại và phản bội đồng minh không tiền khoáng hậu trong Lịch Sử Hoa Kỳ".

     Từ hơn 1/4 thế kỷ, năm 1949, sau khi thu hồi chủ quyền độc lập, Việt Nam được công nhận là tiền đồn của Thế Giới Tự Do tại Đông Nam Á. Do sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ và qua những lời cam kết minh thị của 5 vị Tổng Thống kế tiếp là Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson và Nixon.

     Sự thất thủ của Việt Nam Công Hòa năm 1975 đã dẫn đến sự suy thoái của Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ trên thế giới, với những hậu quả dây chuyền tại một số quốc gia Á Phi, như A Phú Hãn, Angola, Ethiopia, Iran, Mozambique v…v…

     Dầu sao, theo lời tiên đoán của Tướng Độc Nhãn Moshe Dayan, ngày nào Cộng Sản chiếm được Việt Nam thì ngày ấy chế độ Cộng Sản bắt đầu suy thoái.

     Hai võ khí chiến lược của Cộng Sản là tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố.

     Sống dưới ách thống trị của Cộng Sản người dân lần lần nhìn rõ bộ mặt tàn bạo của chế độ với đầy đủ 4 khuyết tật là độc tài, tham nhũng, bất công và bất lực.

     Kinh nghiệm lịch sử cho biết chế độ cộng sản không bị giải thể vì những cuộc tấn công từ bên ngoài. Nó chỉ giải thể khi người dân trong nước không ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa.

     Ngày nay có ít nhất 90% dân chúng Việt Nam đã ý thức bản chất phi nhân của chế độ Cộng Sản. Vì vậy chẳng chóng thì chầy Cộng Sản sẽ tiêu vong.

     Theo ông Ngô Đình Nhu thời gian Cộng Sản tiêu vong có thể ước lượng là 3 chu kỳ (3 con giáp hay 36 năm). Từ 1975 đến nay đã 34 năm. Và nếu như lời tiên đoán nói trên được chứng nghiệm thì cộng sản chỉ còn sống vất vưởng trong vài ba năm.

     Tuy nhiên, về phương diện đấu tranh chính trị, không ai dám tin vào những lời tiên đoán. Phải căn cứ vào những điều kiện lịch sử với những yếu tố về chính nghĩa và ý thức, ý chí và quyết tâm, hy sinh chiến đấu, hậu thuẫn quần chúng, hậu thuẫn quốc tế, trào lưu tiến hóa và vận dụng thời cơ.

     Như vậy tương lai chính trị của Việt Nam chủ yếu phải trông vào nội lực của chính người Việt chúng ta. Yếu tố thời vận vẫn cần thiết. Nhưng yếu tố nhân sự có tính quyết định.

     Điều cốt yếu là chúng ta phải sáng suốt nhận định thời thế. Đồng thời giữ vững Niềm Tin vào tiền đồ đất nước. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới là một dân tộc bất khuất, không chấp nhận sự thống trị của ngoại bang cũng như sự đè nén của kẻ nội thù.

     Luật sư Nguyễn Hữu Thống

                                         15-3-2009

                         (Ngày sinh hoạt của Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy) 
 

 

Mục lục sách "Vấn Đề Hoàng Sa Trường Sa theo Công Pháp Quốc Tế"

Trân trọng giới thiệu với quý vị và các bạn sách mới phát hành của Luật sư Nguyễn Hữu Thống (Hoa Kỳ): "Vấn đề Hoàng Sa Trường Sa theo Công Pháp Quốc Tế". Sách trang nhã, gọn nhẹ dễ phổ biến, có phần tổng kết bằng Anh ngữ cho giới trẻ và chuyên gia ngoại quốc. Nội dung cô đọng phong phú, ngôn ngữ và tài liệu biên khảo dễ hiểu về sử địa hay pháp lý. Sách dầy 130 trang, giá bán $10. Quý vị vui lòng liên lạc nguyenhthong@earthlink.com.

 

Luật sư Nguyễn Hữu Thống nguyên là Đệ nhất Phó chủ tịch Quốc Hội lập hiến VNCH, giáo sư chính trị học tại Đà Lạt trước 1975. Trong 23 năm là Luật sư Tòa Thượng Thẩm Saigon và Paris, hiện đang hành nghề luật sư tại Tối cao pháp viện California 30 năm. Cựu chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam tại California Hoa Kỳ. 15 sách đã xuất bản: (Nho học giản dị 1996, Chủ nghĩa dân chủ xã hội 1957, Nền dân chủ trong các tân quốc gia 1960, Luật quốc tế nhân quyền 1998, Xử án Vương Thúy Kiều 1972, Những chuyến đi 1959, Restoring the historic truth 2003, Biện minh cho các tù nhân lương tâm 2007, Giải thể chế độ cộng sản 2002, Lá thư miền nam 1958...)

                               

Mục Lục sách "Vấn đề Hoàng Sa Trường Sa theo Công Pháp Quốc Tế".

 
Phần Thứ Nhất

 
Các Hiệp Ước Quốc Tế
  1. Các hiệp ước Pháp Hoa
  2. Tuyên cáo Cairo và nghị quyết Teheran
  3. Tuyên ngôn Potsdam
  4. Hiệp định Élysée
  5. Hiệp ước hòa bình San Francisco
  6. Hiệp định Geneva
  7. Tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải
  8. Hiệp định và định ước Paris

 

Phần Thứ Hai

 

Công ước quốc tế về luật biển

  1. Biển lịch sử
    1. Chính sách bế quan toả cảng
    2. Danh xưng Nam Hải
    3. Luật biển và luật tục lệ quốc tế
  2. Các Hải đảo
    1. Thủ đắc do khám phá
    2. Thủ đắc do chiếm cứ
  3. Thềm lục địa
    1. Về Trường sa
    2. Về Hoàng sa
    3. 10 tiêu chuẩn
    4. Về vịnh Bắc Việt

 

  1. Kế Hoạch và đề nghị
    1. Kế hoạch của Trung Quốc
    2. Đề nghị gởi Đại Hội ASEAN 1995

 

Bản tóm lược

Summary (English)

 

Muốn có sách quý, giá $10, xin liên lạc email nguyenhthong@earthlink.com

 

 

Báo động Phi Luật Tân giành Trường Sa

California ngày 5 tháng 4, 2009

Thưa các bạn,

Do nạn xâm thực vùng biển Hoàng Sa từ phương Bắc và nạn xâm lấn vùng biển Trường Sa từ phương Đông, Biển Đông đang gặp hiểm họa cạn kiệt. Do thái độ thụ động và tiêu cực của nhà cầm quyền Hà Nội. Ngày 20-2 vừa qua, chúng tôi đã gửi văn thư cảnh giác và khuyến cáo  nhà cầm quyền Hà Nội hãy nạp đơn tại Liên Hiệp Quốc trước ngày 13-5 tới đây là thời hạn chót, để yêu cầu cho mở rộng thềm lục địa Việt Nam từ 200 hải lý tới 350 hải lý (650 ki lô mét). Mục đích để bảo vệ và tranh thủ tối đa chủ quyền lãnh thổ tại các thềm lục địa Việt Nam nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ba tuẩn sau, ngày 11-3-2009, đài phát thanh Pháp Quốc Tế (RFI) loan báo Phi Luật Tân đã ban hành đạo luật xác định đường cơ sở của họ tại Biển Đông Nam Á, và sẽ lập bản tường trình để yêu cầu LHQ cho Phi Luật Tân mở rộng thềm lục địa tới 350 hải lý.

Nếu đơn này được chấp nhận thì theo công pháp quốc tế họ sẽ chính thức có chủ quyền lãnh thổ 362 hải lý, gồm 350 hải lý thềm lục địa và 12 hải lý biển lãnh thổ. Và nếu họ vẽ đường cơ sở tại Palawan  (cách bờ biển Việt Nam trên 500 hải lý) thì hải phận của Việt Nam sẽ bị hạn định là 200 hải lý thềm lục địa pháp lý cộng với 12 hải lý biển lãnh thổ. Trong trường hợp này rất có thể Việt Nam sẽ mất tất cả các đảo, cồn, đá, bãi tại vùng biển Trường Sa cách bờ biển Việt Nam trên 220 hải lý (gồm khoảng trên 20 đơn vị).

Vì vậy, chúng tôi có nghĩa vụ báo động và công bố nguy cơ này để đồng bào trong và ngoài nước tạo áp lực tối đa buộc Chính Phủ và Đảng Cộng Sản phải đứng lên làm tròn nghĩa vụ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam.

 Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một kỳ tới.

 Thân chào đoàn kết, 

Nguyễn Hữu Thống