Tuesday, August 18, 2009

Letter to President Fidel Ramos on the Spratly Conflict

Top of Form

 Nguyen Huu Thong

In the Matter of Law & Order in Southeast Asian Sea
(Attorney at Law Nguyen Huu Thong)

Editorial Note: Attorney at Law Nguyen Huu Thong, President of the Vietnamese Lawyers Association, Inc. in San Jose, recently sent to leaders of South East Asian governments a letter to urge them to submit the matter South East Asian Sea conflict to an international tribunal. Following is his letter to President Fidel Ramos of the Philippines.

San Jose, July 14, 1995

c/o Philippine Consulate General
447 Sutter Street, Sixth Floor San Francisco, CA 94108
RE: Law and Order in Southeast Asian Sea.

Dear Mr. President:

On behalf of the California Vietnamese Lawyers Association, I would like to submit for your consideration on the Spratly conflict.

Seven years ago there was a naval battle between China and Vietnam in the Spratly Islands. China's declaration of sovereignty over the Paracels and the Spratlys and their occupation by Chinese navy have sparkled conflict with Vietnam and the Philippines.
Recently, the incidents at Mischief Reef, Half Moon Shoal, Sabina Shoal and Jackson Bank on the Philippine continental shelf have threatened the security of the area and the freedom of navigation in the South China Sea.

At Vanguard Bank called Tu Chinh or Wanan Bei, China and Vietnam are claiming a potentially oil rich tract that China awarded to Crestone Corporation three years ago. That tract lies on Vietnam's continental shelf about 190 nautical miles southeast of Ho chi Minh City.

The Spratly Islands, east of the disputed Crestone contract area, are contested by a number of countries including China, Vietnam, the Philippines, Malaysia, Brunei and Taiwan.

The "U Shaped" area of Nan Hai (South Sea) known as the "Dragon Tongue" claimed by China as "Hainan Special Administration District" encompasses 80% of the South China Sea, eastward to the Philippines, westward to Vietnam and southward to Malaysia, Brunei and Indonesia, the farthest spot having a distance of 1,100 nautical miles (2000 Km) from mainland China. By doing so, China has considered the South China Sea as its "internal waters", the same way as the Roman Empire called the Mediterranean Sea "Mare Nostrum" (our sea).

By international law, pursuant to Article 57 of the United Nations Convention on the Law of the Sea (1982) (LOS Convention), all coastal states, have been granted exclusive fishing rights in the Exclusive Economic Zone extending 200 nautical miles from shore.

Article 76 of the LOS Convention gives coastal states exclusive rights to drill for oil and gas in the continent shelf up to 350 nautical miles from their coasts. The continental shelf comprises the sea bed and subsoil of the submarine areas that extend throughout the natural prolongation of its land territory to the outer edge of the continental margin, or to a distance of 200 nautical miles from the baselines.

For those coastal states who have not-declared a continental shelf of up to 200 nautical miles from the baselines, they are entitled to it ab initio, ipso facto and ipso jure under customary international law, and the 1982 Law of the Sea Convention to which they are signatories (See the Libya/ Malta Continental Shelf Case, ICJ Report 1985, 13). These are the cases of the Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia, Brunei and China (Vietnam has declared its continental shelf of 200 nautical miles from the baselines in 1982). That 200-nautical miles continental shelf is called the Legal Continental Shelf.

Article 77 of the LOS Convention gives sovereign and exclusive rights to the coastal states over the continental shelf:

1. The, coastal State exercises sovereign rights over the continental shelf for the purpose of exploring it and exploiting its natural resources.
2. These rights are exclusive in the sense that if the coastal State does not explore the continental shelf or exploit its natural resources, no one may undertake these activities without the express consent of the coastal State.
3. The rights of the coastal State over the continental shelf do not depend on occupation, or on any express proclamation.

Concerning the drilling on the continental shelf, Article 81 of the LOS Convention provides that "the coastal State shall have the exclusive right to authorize and regulate drilling on the continental shelf for all purposes".

The Rule Pacta sunt servanda applies for the observance of treaties.
Article 26 of the Vienna Convention on the Law of Treaties (1969) declares that "every treaty in force is binding upon the parties to it and must be performed by them in good faith".

The United Nations International Law Commission in its commentaries to this rule, characterized it as a "fundamental principle of the law of treaties, perhaps the most important principle of international law". (See 1966 Report on the I.L.C. reproduced in 61 Am. Int'l L. 248 at 334)(1967).

According to the rule of supremacy of international law, the rights and obligations-which a state has, by international law are, on the international plane, superior to any rights or duties it may have under its domestic law. Article 27 of the Vienna Convention provides that "a party may not invoke the provisions of its internal law as justification for its failure to: perform a treaty". That failure to perform would constitute a breach of international law requesting remedies with provisional measures in case the urgency of the situation required it.

Therefore, China should not invoke its domestic Law of the Sea promulgated in 1992 to encroach upon the Vietnamese and Philippine Continental Shelves and the whole Spratly and Paracel archipelagoes. These violations of the law of the sea should be submitted to the International Court of justice or the International Tribunal For the Law of the Sea for the resolution of disputes in case the parties do not reach an agreement by negotiation and conciliation. The International Court Tribunal has jurisdiction over the matters relating to the interpretation or application of the LOS Convention. Until December 1982, the Convention was signed by 119 states. It has come into force on November 16, 1994 after its ratification by 60 states.

On July 29, 1994, the United States signed the Agreement Relating to the Implementation of Part XI of the LOS Convention. Last October, President Bill Clinton transmitted a letter to the U.S. Senate asking its consent to accession to the LOS Convention.

The settlement of these disputes by peaceful means such as negotiation. conciliation and judicial proceed 9 would keep Southeast Asia from becoming another Middle East. With the rule of law taking the place of the use of force, Southeast Asia may soon experience a period of peace, stability, cooperation and prosperity.

I would like to seize this opportunity to propose that you change the name "South China Sea" to "Southeast Asian Sea'. The appellation of South Sea (Nan Hai) is good only for China; the East Sea (Bien Dong) applies only to Vietnam. As for Singapore, Indonesia, Malaysia and Brunei, it should called North Sea; and for the Philippines, the correct name be West Sea.
Furthermore,, the name South China Sea could be interpreted erroneously as the Sea of China in the South.

Let us give to Caesar what belongs to Caesar, and give Southeast Asian Sea to the Southeast Asian countries.

Thank you for your attention to this matter,

Yours sincerely,
For the California Vietnamese Lawyers Association
The President,
Attorney at Law







            Ngày 14-7-1995, nhân kỳ Đại Hội ASEAN tại Brunei, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam tại California đã gửi văn thư cho 7 vị nguyên thủ quốc gia trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á là Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Brunei, Tân Gia Ba, Thái Lan và Việt Nam để trình bày về vấn đề giải quyết các vụ tranh chấp tại Biển Đông Nam Á theo những quy luật dự liệu trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.


            Theo các quan sát viên quốc tế, văn thư này đưa ra giải đáp ưu tiên hàng đầu cho vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bằng cách dùng phương thức tranh nghị để đi đến hòa bình. (The Discussion Proceeds for Peace).


            Dưới đây là văn thư của Luật Sư Nguyễn Hữu Thống gửi Tổng Thống Phi Luật Tân Fidel Ramos:


            Thưa Tổng Thống,


            Nhân danh Hội Luật Gia Việt Nam tại California, chúng tôi xin trình bày cùng Tổng Thống vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa.


            7 năm trước đây, có trận hải chiến giữa Việt Nam và Trung Quốc tại vùng biển Trường Sa. Trong dịp này Trung Quốc đòi chủ quyền lãnh thổ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và đã chiếm cứ một số hải đảo gây nên mâu thuẫn và tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam và Phi Luật Tân.


            Mới đây Trung Quốc còn lấn chiếm một số cồn, đá, bãi toạ lạc tại thềm lục địa Phi Luật Tân như Mischief Reef, Half Moon Shoal, Sabina Shoal và Jackson Bank. Hành động này đe dọa an ninh toàn vùng Đông Nam Á và cản trở sự tự do giao thương tại Biển Nam Hải.


            Từ 3 năm trước, Trung Quốc cũng xâm chiếm một vùng biển tại Bãi Tứ Chính (Vanguard Bank) mà họ gọi là Bãi Vạn An (Wanan Bei) để tự tiện nhượng quyền khai thác dầu khí cho Hãng Crestone. Vùng bãi này nằm trong Thềm Lục Địa Việt Nam cách bờ biển 190 hải lý về phía đông nam.


            Phía đông Bãi Tứ Chính nơi Hãng Crestone đang khai thác dầu khí là quần đảo Trường Sa, đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương và Đài Loan.


            Lưỡi Rồng Trung Quốc hình chữ U, mà Bắc Kinh gọi là "Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam", chiếm 80% Biển Nam Hải, phía đông giáp Phi Luật Tân, phía tây giáp Việt Nam và phía nam giáp Mã Lai, Brunei và Nam Dương, điểm xa nhất cách Hoa Lục 1,100 hải lý (hay 2000km). Hành động như vậy Trung Quốc coi Biển Nam Hải là nội hải của họ (internal waters), cũng như Đế Quốc La Mã ngày xưa gọi Địa Trung Hải là "Biển Của Chúng Tôi" (Mare Nostrum).


            Chiếu Điều 57 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có đặc quyền đánh cá tại Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý (Exclusive Economic Zone).


            Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có đặc quyền thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa (continental shelf) kéo dài từ 200 hải lý đến 350 hải lý, nếu về mặt địa hình, thềm lục địa là sự tiếp nối tự nhiên của nền lục địa (continental margin) từ đất liền ra ngoài biển. Về mặt pháp lý các quốc gia duyên hải đã ký kết hay tham gia Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đương nhiên được hưởng quy chế thềm lục địa pháp lý 200 hải lý. Đó là trường hợp của các quốc gia Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Brunei, Tân Gia Ba, Thái Lan và Việt Nam (Việt Nam đã đăng ký thềm lục địa pháp lý 200 hải lý từ năm 1982).


            Chiếu Điều 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải có chủ quyền  tuyệt đối tại thềm lục địa để thăm dò và khai thác những tài nguyên thiên nhiên. Đây là đặc quyền chuyên hữu theo đó không ai có quyền thăm dò và khai thác dầu khí nếu không có sự ưng thuận minh thị của quốc gia duyên hải. Những quyền này không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ hay công bố minh thị.


            Điều 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển một lần nữa xác nhận chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền  chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc tự mình đứng ra thăm dò và khai thác dầu khí, hay ký hiệp ước cộng tác với các quốc gia đệ tam về những dịch vụ này.


Chiếu nguyên tắc "các hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng", Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (1969) quy định như sau: "Các hiệp ước có hiệu lực chấp hành  buộc các quốc gia kết ước phải ngay tình thi hành hiệp ước". Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế coi đó là "một nguyên tắc căn bản về luật hiệp ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong công pháp quốc tế".


            Chiếu nguyên tắc về giá trị thượng tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật Quốc Nội, các quốc gia  kết ước phải thực sự thi hành những quyến hạn và nghĩa vụ ghi trong các hiệp ước hay công ước quốc tế . Họ không thể viện dẫn luật quốc nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ ghi trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết hay tham gia.


            Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. Sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, 10 năm sau, năm 1992, Bắc Kinh ban hành Luật Quốc Gia về Biển (Domestic Law of the Sea) xâm phạm chủ quyền lãnh thổ tại các Thềm Lục Địa Việt Nam và Phi Luật Tân, cũng như tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


            Những vi phạm luật biển phải được đệ trình Tòa Án Quốc Tế (The Hague) hay các Tòa Án Luật Biển thiết lập do Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.


            Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, về hải phận hay về hải đảo, các quốc gia đương tụng phải, trước hết, tuân hành những phương thức ôn hòa như điều đình, hòa giải, thương nghị hay trọng tài.


            Ngoài ra Tòa Án Quốc Tế cũng có thẩm quyền giải thích và áp dụng những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển  có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.


            Sự giải quyết tranh chấp bằng những phương pháp ôn hòa như hòa giải, thương nghị, trọng tài hay tố tụng sẽ giúp cho Đông Nam Á khỏi biến thành vùng tranh chấp thường xuyên như Trung Đông. Với việc sử dụng luật pháp (pháp trị) thay thế việc sử dụng võ lực (phi pháp), Đông Nam Á sẽ có cơ may được hưởng một kỷ nguyên hòa bình, ổn định, hợp tác và phồn thịnh.


            Nhân dịp này chúng tôi cũng thỉnh cầu các quốc gia hội viên trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á ra quyết định đổi danh xưng Biển Nam Hải thành Biển Đông Nam Á. Danh từ Nam Hải chỉ áp dụng cho Trung Quốc. Đối với Việt Nam nó có tên là Biển Đông. Đối với Tân Gia Ba, Nam Dương, Mã Lai  và Brunei nó là Bắc Hải. Đối với Phi Luật Tân nó là Biển Tây.


Hơn nữa danh xưng Nam Hải có thể bị ngộ nhận và giải thích sai lạc là Biển của Trung Hoa về phía Nam.  


Hãy trả Caesar những gì của Caesar.

 Và hãy trả Biển Đông Nam Á cho các Quốc Gia Đông Nam Á.


Chúng tôi xin cám ơn sự chú tâm của Tổng Thống về vấn đề này.


Kính thư,


Thay mặt Hội Luật Gia Việt Nam tại California

Chủ Tịch,

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống.